Chỉ thị 84/2008/CT-BVHTTDL

Các tài liệu phục vụ cho việc sưu tầm
Post Reply
User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Chỉ thị 84/2008/CT-BVHTTDL

Post by Khải-SG » Sun 30 Nov, 2008 8:50 am

Ngày 03/11/2008, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành Chỉ thị 84/2008/CT-BVHTTDL về tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo nhằm thúc đẩy sự ra đời, phát triển của các bảo tàng và sưu tập tư nhân.

Các bác tìm đọc.
Con người cần phải sống có đạo lý & đạo lý đòi hỏi con người sự công bằng. Nghèo cho sạch, rách cho thơm.

nt
Posts: 1563
Joined: Thu 04 Sep, 2008 8:57 pm

Re: Chỉ thị 84/2008/CT-BVHTTDL

Post by nt » Sun 30 Nov, 2008 10:52 am

[Ngày 03/11/2008, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành Chỉ thị 84/2008/CT-BVHTTDL về tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo nhằm thúc đẩy sự ra đời, phát triển của các bảo tàngsưu tập tư nhân
................
Bác Khải-SG ơi, làm ơn cho xem cả cái chỉ thị này một chút,...Không có chắc nhiều bác bức xữc lắm đó......:D :D
Theo như chữ nghiã bác đưa ở trên, thì BVH muốn bảo tàng và tư nhân phải sưu tâp theo định hường Xã Hội Chủ Nghĩa phải không bác Khải-SG??? Nếu như vậy cho hỏi chút :
1-----Sưu tâm là thú vui cá nhân, sao BVH lại xí mũi vô chỉ đạo???
2-----Để phàt triển Bảo Tàng và Sưu tâp tư nhân thì BVH có tài trợ tài chánh để mua hàng sưu tâp không??
3-----Để cho được hoành trang BVH có gom bi tất cả các nhà sưu tâp ở VN lại thành một Hôi Sưu Tầm Quốc Doanh không ??.Nếu đúng như vậy thì các sưu tầm viên hết có cơ sưu tầm lung tung rồi....
4-----BVH mà cũng có quyền ra lệnh cho mấy chuyện tư nhân sao?? Bảo tàng quốc gia còn chưa lo hết mà đã muốn quản lý sưu tầm tư nhân rồi...Thật là RÁCH VIỆC ... [-X
Thêm một chuyện khôi hài thế kỷ 21----:D:D :roll:

User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Post by Khải-SG » Sun 30 Nov, 2008 12:03 pm

Từ từ kiếm công văn chính thức rổi xem nội dung bác ơi. Tui chưa tìm ra nên ý là trích tin ở đây để các bác nào có văn bản thì post xem. Công ty luật hàng kỳ hay gởi cho tui trích tin tóm tắt về các văn bản luật mới của CP, các Bộ, UBND,...để tui tham khảo trong công việc chuyên môn xưa nay :wink: chứ muốn lấy văn bản sớm thì phải xuất $ phí dịch vụ :lol: . Công văn mới ban hành tháng 11-2008 nên Công Báo của Chánh Phủ chưa ra kịp đâu. Xin chờ ! Bác của em nóng wá (nóng hơn đá nóng mát-xa rồi :roll:). Tui tin đây là yếu tố tích cực đấy bác ơi ! :D :D :D Thời sự em nó còn zin nóng hổi thơm phức mà bác bảo rách thì em chịu thua đó !
Con người cần phải sống có đạo lý & đạo lý đòi hỏi con người sự công bằng. Nghèo cho sạch, rách cho thơm.

viet-numis
Site Admin
Posts: 1345
Joined: Mon 17 Apr, 2006 2:44 pm

Post by viet-numis » Sun 30 Nov, 2008 12:33 pm

Có phải cái này không các bác ?
http://bvhttdl.gov.vn/Documentdetail.aspx?ID=675&zoneparent=206 wrote:BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Số: 84/2008/CT-BVHTTDL




CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 03 tháng 11 năm 2008

CHỈ THỊ

Về tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo nhằm thúc đẩy

sự ra đời, phát triển của các bảo tàng và sưu tập tư nhân

Trong thời gian qua, việc thực hiện chủ trương xã hội hóa của Đảng, Nhà nước về hoạt động bảo tàng trên cả nước đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho nhân dân và tuyên truyền, quảng bá những nét đặc sắc về lịch sử, văn hóa Việt Nam. Tuy vậy, công tác quản lý Nhà nước, chỉ đạo và hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ nhằm thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các bảo tàng và sưu tập tư nhân còn chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng xã hội và chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa hoạt động bảo tàng. Nguyên nhân chủ yếu là do các địa phương, các cơ quan chức năng chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò và tiềm năng phát triển của các bảo tàng và sưu tập tư nhân đối với quá trình xã hội hóa các hoạt động bảo tàng; việc xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích sự ra đời và phát triển của các bảo tàng và sưu tập tư nhân còn thiếu đồng bộ, kém hiệu quả.

Để tiếp tục thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các bảo tàng và sưu tập tư nhân, góp phần đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, triển khai có hiệu quả Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg, ngày 23 tháng 6 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch yêu cầu các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện tốt các vấn đề sau đây:

I. Về nhận thức

Cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch quán triệt sâu sắc và đầy đủ mục tiêu, quan điểm về phát triển các bảo tàng và sưu tập tư nhân:

1. Về mục tiêu

a) Phát huy tiềm năng trí tuệ, tâm huyết, cơ sở vật chất của các tổ chức và cá nhân để cùng với Nhà nước đẩy mạnh sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, xã hội hóa các hoạt động bảo tàng.

b) Tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thành lập và mở rộng hoạt động của bảo tàng và sưu tập tư nhân.

c) Tạo sự đa dạng của các sản phẩm văn hóa - du lịch, góp phần nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển hoạt động du lịch.

2. Về quan điểm

a) Đảm bảo quyền sở hữu của chủ sở hữu di sản văn hóa đi đôi với việc đề cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hóa; thực hiện chính sách công bằng xã hội về đóng góp, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của nhân dân.

b) Đề cao trách nhiệm của cơ quan chức năng, chính quyền các cấp đối với hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đồng thời khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của các tổ chức, cá nhân để phát triển hệ thống bảo tàng và sưu tập tư nhân.

c) Phát triển các bảo tàng và sưu tập tư nhân cần có bước đi thích hợp với từng địa phương; ưu tiên, khuyến khích phát triển các bảo tàng và sưu tập tư nhân ở các đô thị, các trung tâm văn hóa - du lịch.

II. Những nhiệm vụ trọng tâm

1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là Luật di sản văn hóa và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về phát triển mạng lưới bảo tàng và sưu tập tư nhân; kịp thời động viên, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thành lập và tổ chức hoạt động có hiệu quả các bảo tàng và sưu tập tư nhân.

2. Tập trung xây dựng để Bộ trưởng ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy sự ra đời, phát triển của các bảo tàng và sưu tập tư nhân.

3. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa nhằm giúp các tổ chức, cá nhân có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thành lập và tổ chức các hoạt động của bảo tàng và sưu tập tư nhân.

4. Điều tra, nghiên cứu tình hình thực hiện Quy chế tổ chức và hoạt động của bảo tàng tư nhân, được ban hành theo Quyết định số 09/2004/QĐ-BVHTT, ngày 24 tháng 2 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin (sau đây gọi tắt là Quy chế tổ chức và hoạt động của bảo tàng tư nhân), đồng thời khảo sát, nghiên cứu một số mô hình bảo tàng tư nhân để xác định và giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thành lập, tổ chức hoạt động của các bảo tàng và sưu tập tư nhân; tạo điều kiện để chủ sở hữu các bảo tàng và sưu tập tư nhân có thể khai thác, phát huy giá trị các di sản văn hóa mà họ đang sở hữu.

III. Tổ chức thực hiện

1. Cục Di sản văn hóa có trách nhiệm

a) Tổ chức nghiên cứu đề xuất việc sửa đổi, bổ sung Luật di sản văn hóa và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm xác lập cơ chế, chính sách phù hợp, thúc đẩy sự ra đời và phát triển các bảo tàng và sưu tập tư nhân.

b) Phối hợp với các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiến hành kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện Quy chế tổ chức và hoạt động của bảo tàng tư nhân ở các địa phương, đồng thời tiến hành nghiên cứu một số mô hình bảo tàng tư nhân để xác định và giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thành lập, tổ chức hoạt động của các bảo tàng và sưu tập tư nhân.

c) Chỉ đạo, hướng dẫn các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các đơn vị chức năng trực thuộc Sở đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai kế hoạch đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn theo hướng dẫn về trình tự, thủ tục đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia tại Thông tư số 07/2004/TT-BVHTT, ngày 19 tháng 2 năm 2004, của Bộ Văn hóa - Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; phối hợp với Hội đồng giám định cổ vật của Bộ và Hội đồng khoa học của các bảo tàng quốc gia hướng dẫn và giúp đỡ các địa phương trong quá trình thẩm định giá trị di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu của các tổ chức, cá nhân.

d) Phối hợp với các cơ sở đào tạo có liên quan trực thuộc Bộ tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn giám định di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

2. Các bảo tàng trực thuộc Bộ có trách nhiệm

a) Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và điều kiện thực tế của từng bảo tàng, tích cực phối hợp, giúp đỡ về chuyên môn, nghiệp vụ để các bảo tàng và sưu tập tư nhân có đối tượng, nội dung hoạt động phù hợp với đối tượng, nội dung hoạt động của bảo tàng mình sớm được thành lập, hoạt động có hiệu quả.

b) Xây dựng và triển khai kế hoạch phối hợp với chủ sở hữu các bảo tàng và sưu tập tư nhân tổ chức trưng bày các sưu tập có nội dung phù hợp với đối tượng, nội dung hoạt động của bảo tàng mình tại địa điểm thích hợp.

3. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm

a) Chủ động tham mưu, đề xuất cho Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các ban, ngành hữu quan của địa phương kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc (về đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện sản xuất, kinh doanh...), tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các bảo tàng và sưu tập tư nhân.

b) Tổ chức xây dựng kế hoạch và lộ trình thực hiện việc đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cho chủ sở hữu các bảo tàng và sưu tập tư nhân; tập trung đầu tư kinh phí, cán bộ có đủ năng lực cho việc triển khai đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia để giúp các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện thành lập và tổ chức hoạt động của bảo tàng và sưu tập tư nhân theo quy định của pháp luật.

c) Chỉ đạo đơn vị chức năng trực thuộc Sở và các bảo tàng tăng cường công tác quản lý nhà nước, đồng thời chủ động, tích cực hướng dẫn, giúp đỡ về chuyên môn, nghiệp vụ đối với các bảo tàng và sưu tập tư nhân thuộc địa bàn.

d) Chỉ đạo và tạo điều kiện cho bảo tàng trực thuộc Sở thường xuyên phối hợp tổ chức trưng bày tại bảo tàng các sưu tập của bảo tàng và sưu tập tư nhân. Trong trường hợp các bảo tàng trực thuộc Sở được đầu tư xây dựng mới hoặc chỉnh lý, nâng cấp nội dung trưng bày, cần chỉ đạo việc thiết kế để có một không gian hợp lý dành cho trưng bày chuyên đề ngắn hạn và triển lãm, đảm bảo cho bảo tàng có điều kiện sẵn sàng tiếp nhận, phối hợp tổ chức trưng bày sưu tập của các bảo tàng và sưu tập tư nhân trên địa bàn.

đ) Chỉ đạo các doanh nghiệp du lịch thuộc tỉnh, thành phố và tạo điều kiện để các doanh nghiệp du lịch có hoạt động trên địa bàn tỉnh, thành phố đưa các bảo tàng và sưu tập tư nhân trở thành những điểm thuộc các tuyến du lịch.

4. Các cơ quan báo chí của ngành có trách nhiệm

Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, định hướng và quy hoạch của ngành về phát triển mạng lưới bảo tàng và sưu tập tư nhân; phát hiện, biểu dương kịp thời các bảo tàng và sưu tập tư nhân hoạt động có hiệu quả, có nhiều đóng góp cho ngành và xã hội.

IV. Hiệu lực thi hành

Chỉ thị này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo.

Yêu cầu các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này./.

Nơi nhận:

- Thủ tướng Chính phủ (để b/c);

- Các Phó Thủ tướng (để b/c);

- Văn phòng Chính phủ;

- Cục Kiểm tra văn bản QPPL-Bộ Tư pháp;

- Website Chính phủ;

- UBND các tỉnh, thành phố trực

thuộc TW (để phối hợp chỉ đạo);

- Lãnh đạo Bộ VHTTDL;

- Các Tổng cục, Cục, Vụ và các bảo tàng

báo, tạp chí trực thuộc Bộ;

- Các Sở VHTTDL;

- Lưu: VT(2), Cục DSVH (180)


BỘ TRƯỞNG

(Đã ký)

User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Post by Khải-SG » Sun 30 Nov, 2008 1:10 pm

Welcome bác Admin ! Nó đấy ! Bác NT nghiên cứu xem nó rách chổ mô ? :lol: :lol: :lol:

Em thấy nhờ có bảo tàng tư nhơn ra đời rồi hàng hoá sưu tầm sẽ bán chạy như tôm tươi đấy các bác. Em đang bị ế đây nên khổ lắm.


Có trích tin nầy :

Ngày 20/10/2008, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định 2317/QĐ-NHNN về việc thanh toán trước hạn tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bắt buộc.


Các bác rảnh tìm hiểu xem Tín Phiếu NHNN là cái gì ? Em cũng sẽ tìm hiểu... :lol:
Con người cần phải sống có đạo lý & đạo lý đòi hỏi con người sự công bằng. Nghèo cho sạch, rách cho thơm.

Manh Tuan
Posts: 139
Joined: Sat 18 Nov, 2006 10:58 pm

Post by Manh Tuan » Sun 30 Nov, 2008 3:46 pm

Đề tài này rất " nhạy cảm ". Đọc xong "chì thị " này tui chì nhớ được những danh từ rất ấn tượng như : quản lý, tuyên truyền, chỉ đạo ... :lol: :roll: :lol:, nhưng không thấy có hành động cụ thể nào hết để giúp đở tiểu gia hay đại gia sưu tầm :lol:.
Đề tài này cũng rất thú vị, nhưng chắc muốn có hiệu quả phải cần đối thoại nhiều hơn và chắc theo quy luật của diển đàn nên dọn ra một sân chơi khác cho đá thoải mái :lol: . Nếu bác nào biết được sân chơi mới về đề tài này xin thông báo cho em tham dự cho vui :wink:

nt
Posts: 1563
Joined: Thu 04 Sep, 2008 8:57 pm

Post by nt » Sun 30 Nov, 2008 3:47 pm

:D :D Cám ơn hai bác đã cho xem một văn bản lich sử...
Quả thật NN ta chăm lo , mọi vấn đề trên cả tuyệt vời....:D :D
Tuy nhiên đọc xong văn bản em chẳng hiểu văn bản này nói cái gi??
Vì thấy nhiều điều quy định lung tung quá, như :.. ...
a)---Phát huy tiềm năng trí tuệ,...-
b)--- Phát triển các bảo tàng và sưu tập tư nhân cần có bước đi thích hợp với từng địa phương....
c)---Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là Luật di sản văn hóa và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về phát triển mạng lưới bảo tàng và sưu tập tư nhân.....
d)---Tổ chức xây dựng kế hoạch và lộ trình thực hiện việc đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cho chủ sở hữu các bảo tàng và sưu tập tư nhân;
e)----Tập trung đầu tư kinh phí, cán bộ có đủ năng lực cho việc triển khai đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia để giúp các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện thành lập và tổ chức hoạt động của bảo tàng và sưu tập tư nhân theo quy định của pháp luật. ....
.........
Úi da.... nhiều quá không hiểu nổi..Nói tóm lại Sưu tập cá nhân cũng phải có hướng theo mục đích yêu cầu cúa Đảng.... nói chung là sưu tập tư nhân cũng phải có định hướng.!!!
---Bác Khải-SG bán sưu tập của bác bây giờ chắc được giá----
---Còn em không dám mang sưu tập của mình về đâu, Sợ cán bộ BVH nói đồ sưu tập em không phù hợp với yệu cầu theo văn bản.....lại không cho mang vào hay mang ra thì mất công toi...
cũng hy vọng như giới bình dân Nam Bộ nóí " Coi dzậy mà không phải dzậy."!!! :D :D
Em chỉ hiểu: Tư Nhân chỉ có thể định hướng và điều hành bởi tư nhân mà thôi !!!
Ủa hình như em không hiểu tiếng Việt thì phải...:D :D--Xin lỗi vậy...
Last edited by nt on Sun 30 Nov, 2008 4:09 pm, edited 1 time in total.

User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Post by Khải-SG » Sun 30 Nov, 2008 4:07 pm

Bác nt nói đúng. Em rất biết ơn các vụ TL. Nhờ nó mà tôm khô siêu tầm bán đắt hơn tôm tươi. Càng khô càng đắt :lol: Cứ sắp có TL (như vừa rôì) là y như rằng hàng tồn kho lại được dịp hét giá :D Trúng lớn chứ đâu nhỏ bác :shock: Cho nên nghe nói vụ bảo tàng tư mọc ra thì em càng hy vọng. Sống phải hy vọng chút, chứ đang suy thoái (recession) kiểu nầy, lâu nữa chắc nghẻo quá bác ơi. :lol: :lol: :lol:
Last edited by Khải-SG on Tue 02 Dec, 2008 6:28 am, edited 2 times in total.
Con người cần phải sống có đạo lý & đạo lý đòi hỏi con người sự công bằng. Nghèo cho sạch, rách cho thơm.

User avatar
vuthang
Posts: 764
Joined: Tue 24 Oct, 2006 4:26 am
Location: Sài Gòn

Post by vuthang » Sun 30 Nov, 2008 4:09 pm

Có phải cái này không các Bác ???



Ngày 13/2, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 346/QĐ-NHNN ngày 13/2/2008 về việc phát hành tín phiếu Ngân hành Nhà nước bằng VND dưới hình thức bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng.

Thông báo từ Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong những tháng đầu năm 2008, tăng trưởng kinh tế thuận lợi nhưng chỉ số giá tiêu dùng được dự báo có nguy cơ tăng ở mức cao (riêng tháng 1 tăng 2,38%). Để rút tiền từ lưu thông về, chủ động kiểm soát chặt chẽ tiền tệ ngay từ đầu năm, góp phần kiềm chế lạm phát, bên cạnh các giải pháp đã được thực hiện như điều chỉnh dự trữ bắt buộc, lãi suất chủ đạo của NHNN, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 346/QĐ-NHNN ngày 13/2/2008 về việc phát hành tín phiếu Ngân hành Nhà nước bằng VND dưới hình thức bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng; nội dung chủ yếu như sau:

Thứ nhất, tổng giá trị tín phiếu NHNN phát hành bắt buộc đợt này là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,80%/năm; hình thức phát hành là ghi sổ.

Thứ hai, giá trị tín phiếu được phân bổ cho từng tổ chức tín dụng theo quy mô, tỷ trọng huy động vốn bằng đồng Việt Nam của từng tổ chức tín dụng. Có 41 tổ chức tín dụng thuộc đối tượng mua tín phiếu NHNN bắt buộc. Các tổ chức tín dụng hoạt động chủ yếu trên địa bàn nông nghiệp, nông thôn không thuộc đối tượng mua bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, Quỹ Tín nhân dân trung ương, Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, các tổ chức tín dụng có số dư vốn huy động bằng VND đến ngày 31/1/2008 từ 1.000 tỷ đồng trở xuống. Tuy nhiên, các TCTD cần phải sử dụng hợp lý nguồn vốn được miễn tham gia mua tín phiếu để tăng cường mở rộng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp nông thôn.

Thứ ba, Quyết định này được ban hành từ giữa tháng 2/2008 nhưng thời điểm phát hành tín phiếu là ngày 17/3/2008, nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng thuộc đối tượng mua có thời gian chuẩn bị, bố trí vốn để mua tín phiếu theo chỉ tiêu được phân bổ, tránh những biến động đột biến trên thị trường tiền tệ.

Thứ tư, tín phiếu NHNN mua bắt buộc đợt này được NHNN thanh toán khi đáo hạn (ngày 16/3/2009); xuất phát từ mục tiêu rút bớt tiền từ lưu thông do vậy các tổ chức tín dụng không được sử dụng tín phiếu mua đợt này trong các giao dịch tái cấp vốn với NHNN.

Đối với các TCTD, việc phát hành tín phiếu NHNN đợt này sẽ có tác động nhất định đến cung- cầu vốn nhưng lãi suất thị trường tiền tệ sẽ ít biến động do NHNN trả lãi suất tín phiếu ở mức hợp lý, kỳ hạn phát hành ngắn hạn, thời điểm phát hành vào sau Tết nguyên đán khi việc huy động vốn của các TCTD có xu hướng tăng theo tính quy luật hàng năm. NHNN sẽ theo dõi chặt chẽ các tác dộng và diễn biến thị trường tiền tệ để có giải pháp thích hợp nhằm tránh những biến động đột biến trên thị trường tiền tệ.

User avatar
9PN
Posts: 4035
Joined: Wed 16 Aug, 2006 12:27 am
Location: California

Post by 9PN » Mon 01 Dec, 2008 2:21 am

viet-numis wrote:Có phải cái này không các bác ?
http://bvhttdl.gov.vn/Documentdetail.aspx?ID=675&zoneparent=206 wrote:BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Số: 84/2008/CT-BVHTTDL
.
.
.
III. Tổ chức thực hiện

1. Cục Di sản văn hóa có trách nhiệm

a) Tổ chức nghiên cứu đề xuất việc sửa đổi, bổ sung Luật di sản văn hóa và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm xác lập cơ chế, chính sách phù hợp, thúc đẩy sự ra đời và phát triển các bảo tàng và sưu tập tư nhân.

Các bác tìm giùm bộ luật trên thì hay và sẽ rõ ràng cái gì cấm.

Rồi góp ý...nếu người nước ngoài đem về VN phục vụ trưng bày thì thủ tục như thế nào..

Theo 9PN được tin truyền miệng...nếu hàng sưu tầm trên 100 tuổi thì không được "xuất ngoại", trong nước thì vô tư.

1) Nếu mình đem về VN như tờ 100 Piastres vừa trên 100 tuổi thì giải quyết thế nào khi đem ra khỏi nước?
2) Luật đã ban hành thì tờ tiền chưa đủ 100 tuổi. Bây giờ thì trên 100 tuổi, như vậy luật có sửa lại ngày không.


User avatar
vuthang
Posts: 764
Joined: Tue 24 Oct, 2006 4:26 am
Location: Sài Gòn

Post by vuthang » Mon 01 Dec, 2008 11:45 am

QUỐC HỘI


Số: 28/2001/QH10 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----- o0o -----
Ngày 29 Tháng 06 năm 2001


--------------------------------------------------------------------------------


LUẬT DI SẢN VĂN HÓA


Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.

Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới;

Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này quy định về di sản văn hóa.

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 2

Luật này quy định về các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hóa ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 3

Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 4

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.

2. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

3. Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.

4. Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học.

5. Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.

6. Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.

7. Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.

8. Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm giống như bản gốc về hình dáng, kích thước, chất liệu, mầu sắc, trang trí và những đặc điểm khác.

9. Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội.

10. Thăm dò, khai quật khảo cổ là hoạt động khoa học nhằm phát hiện, thu thập, nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ.

11. Bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

12. Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.

13. Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh là hoạt động nhằm phục hưng lại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đó.

Điều 5

Nhà nước thống nhất quản lý di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác về di sản văn hóa theo quy định của pháp luật.

Quyền sở hữu, quyền tác giả đối với di sản văn hóa được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 6

Mọi di sản văn hóa ở trong lòng đất thuộc đất liền, hải đảo, ở vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 7

Di sản văn hóa phát hiện được mà không xác định được chủ sở hữu, thu được trong quá trình thăm dò, khai quật khảo cổ đều thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 8

1. Mọi di sản văn hóa trên lãnh thổ Việt Nam, có xuất xứ ở trong nước hoặc từ nước ngoài, thuộc các hình thức sở hữu, đều được bảo vệ và phát huy giá trị.

2. Di sản văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài được bảo hộ theo tập quán quốc tế và theo quy định của các điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Điều 9

1. Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

2. Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hóa. Chủ sở hữu di sản văn hóa có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

3. Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Điều 10

Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân (sau đây gọi là tổ chức) và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Điều 11

Các cơ quan văn hóa, thông tin đại chúng có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài các giá trị di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong nhân dân.

Điều 12

Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích:

1. Phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội;

2. Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

3. Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế.

Điều 13

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

1. Chiếm đoạt, làm sai lệch di sản văn hóa;

2. Hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa;

3. Đào bới trái phép địa điểm khảo cổ; xây dựng trái phép; lấn chiếm đất đai thuộc di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;

4. Mua bán, trao đổi và vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đưa trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài.

5. Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để thực hiện những hành vi trái pháp luật.

CHƯƠNG II
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA

Điều 14

Tổ chức, cá nhân có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Sở hữu hợp pháp di sản văn hóa;

2. Tham quan, nghiên cứu di sản văn hóa;

3. Tôn trọng, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

4. Thông báo kịp thời địa điểm phát hiện di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do mình tìm được cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi gần nhất;

5. Ngăn chặn hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi phá hoại, chiếm đoạt, sử dụng trái phép di sản văn hóa.

Điều 15

Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu di sản văn hóa có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Thực hiện các quy định tại Điều 14 của Luật này;

2. Thực hiện các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; thông báo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp di sản văn hóa có nguy cơ bị làm sai lệch giá trị, bị hủy hoại, bị mất;

3. Gửi sưu tập di sản văn hóa phi vật thể, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia vào bảo tàng nhà nước hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp không đủ điều kiện và khả năng bảo vệ và phát huy giá trị;

4. Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham quan, du lịch, nghiên cứu di sản văn hóa;

5. Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 16

Tổ chức, cá nhân quản lý trực tiếp di sản văn hóa có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Bảo vệ, giữ gìn di sản văn hóa;

2. Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại di sản văn hóa;

3. Thông báo kịp thời cho chủ sở hữu hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi gần nhất khi di sản văn hóa bị mất hoặc có nguy cơ bị hủy hoại;

4. Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham quan, du lịch, nghiên cứu di sản văn hóa;

5. Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG III
BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

Điều 17

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Điều 18

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh) chỉ đạo việc tổ chức lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể ở địa phương để bảo vệ và phát huy giá trị.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin quy định thủ tục lập hồ sơ khoa học về các di sản văn hóa phi vật thể.

Điều 19

Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của Việt Nam là Di sản văn hóa thế giới, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin.

Hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Hội đồng di sản văn hóa quốc gia.

Điều 20

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc thất truyền.

Điều 21

Nhà nước có chính sách và tạo điều kiện để bảo vệ và phát triển tiếng nói, chữ viết của các dân tộc ở Việt Nam. Mọi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Điều 22

Nhà nước và xã hội bảo vệ, phát huy những thuần phong mỹ tục trong lối sống, nếp sống của dân tộc; bài trừ những hủ tục có hại đến đời sống văn hóa của nhân dân.

Điều 23

Nhà nước có chính sách khuyến khích việc sưu tầm, biên soạn, dịch thuật, thống kê, phân loại và lưu giữ các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian của cộng đồng các dân tộc Việt Nam để lưu truyền trong nước và giao lưu văn hóa với nước ngoài.

Điều 24

Nhà nước có chính sách khuyến khích việc duy trì, phục hồi và phát triển các nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu; nghiên cứu và ứng dụng những tri thức về y, dược học cổ truyền; duy trì và phát huy giá trị văn hóa ẩm thực, giá trị về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác.

Điều 25

Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống; bài trừ các hủ tục và chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong tổ chức và hoạt động lễ hội. Việc tổ chức lễ hội truyền thống phải theo quy định của pháp luật.

Điều 26

Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt.

Điều 27

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài được tiến hành nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

CHƯƠNG IV
BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ

Mục 1
DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH

Điều 28

1. Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước;

b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước;

c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến;

d) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;

đ) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.

2. Danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

a) Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu;

b) Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất.

Điều 29

Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là di tích) được chia thành:

1. Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương;

2. Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia;

3. Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia.

Điều 30

1. Thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích được quy định như sau:

a) Chủ tịch ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh;

b) Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin quyết định xếp hạng di tích quốc gia;

c) Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.

2. Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị hủy hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định hủy bỏ xếp hạng đối với di tích đó.

Điều 31

Thủ tục xếp hạng di tích được quy định như sau:

1. Chủ tịch ủy ban Nhân dân cấp tỉnh lập hồ sơ di tích trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin quyết định xếp hạng di tích quốc gia;

2. Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin lập hồ sơ di tích trình Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; lập hồ sơ di tích tiêu biểu của Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa vào Danh mục di sản thế giới.

Hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Hội đồng di sản văn hóa quốc gia.

Điều 32

1. Các khu vực bảo vệ di tích bao gồm:

a) Khu vực bảo vệ I gồm di tích và vùng được xác định là yếu tố gốc cấu thành di tích, phải được bảo vệ nguyên trạng;

b) Khu vực bảo vệ II là vùng bao quanh khu vực bảo vệ I của di tích, có thể xây dựng những công trình phục vụ cho việc phát huy giá trị di tích nhưng không làm ảnh hưởng tới kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di tích.

Trong trường hợp không xác định được khu vực bảo vệ II thì việc xác định chỉ có khu vực bảo vệ I đối với di tích cấp tỉnh do Chủ tịch ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định, đối với di tích quốc gia do Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin quyết định, đối với di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

2. Việc xây dựng các công trình ở khu vực bảo vệ II quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt phải có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, đối với di tích cấp tỉnh phải có sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch ủy ban Nhân dân cấp tỉnh.

3. Các khu vực bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều này được xác định trên bản đồ địa chính, kèm theo biên bản khoanh vùng bảo vệ và phải được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận trong hồ sơ di tích.

Điều 33

1. Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc được giao quản lý, sử dụng di tích có trách nhiệm bảo vệ di tích đó; trong trường hợp phát hiện di tích bị lấn chiếm, hủy hoại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại phải kịp thời có biện pháp ngăn chặn và thông báo cho cơ quan chủ quản cấp trên trực tiếp, ủy ban Nhân dân địa phương hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin nơi gần nhất.

2. Ủy ban Nhân dân địa phương hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin khi nhận được thông báo về di tích bị hủy hoại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại phải kịp thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ và báo cáo ngay với cơ quan cấp trên trực tiếp.

3. Bộ Văn hóa - Thông tin khi nhận được thông báo về di tích bị hủy hoại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại phải kịp thời chỉ đạo và hướng dẫn cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương, chủ sở hữu di tích áp dụng ngay các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ; đối với di tích quốc gia đặc biệt phải báo cáo với Thủ tướng Chính phủ.

Điều 34

Việc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích phải được xây dựng thành dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và phải bảo đảm giữ gìn tối đa những yếu tố nguyên gốc của di tích.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành quy chế về bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích.

Điều 35

Thẩm quyền phê duyệt dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích được thực hiện theo Luật này và các quy định của pháp luật về xây dựng. Khi phê duyệt dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin.

Điều 36

1. Khi phê duyệt dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích quy định tại Điều 32 của Luật này mà xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến cảnh quan thiên nhiên và môi trường - sinh thái của di tích thì phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin.

2. Trong trường hợp chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng công trình quy định tại khoản 1 Điều này có đề nghị thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin có trách nhiệm cung cấp tài liệu liên quan và những yêu cầu cụ thể về bảo vệ di tích để chủ đầu tư lựa chọn các giải pháp thích hợp bảo đảm cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích.

Điều 37

1. Chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng công trình ở nơi có ảnh hưởng tới di tích có trách nhiệm phối hợp và tạo điều kiện để cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin giám sát quá trình cải tạo, xây dựng công trình đó.

2. Trong quá trình cải tạo, xây dựng công trình mà thấy có khả năng có di tích hoặc di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thì chủ dự án phải tạm ngừng thi công và thông báo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin.

Khi nhận được thông báo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin phải có biện pháp xử lý kịp thời để bảo đảm tiến độ xây dựng. Trường hợp xét thấy cần đình chỉ xây dựng công trình tại địa điểm đó để bảo vệ nguyên trạng di tích thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin phải báo cáo lên cơ quan cấp trên có thẩm quyền quyết định.

3. Trong trường hợp cần tổ chức thăm dò, khai quật khảo cổ thì kinh phí thăm dò, khai quật do Chính phủ quy định.

Điều 38

Việc thăm dò, khai quật khảo cổ chỉ được tiến hành sau khi có giấy phép của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin.

Trong trường hợp địa điểm khảo cổ đang bị hủy hoại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại thì Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin cấp giấy phép khai quật khẩn cấp.

Điều 39

1. Tổ chức có chức năng nghiên cứu khảo cổ muốn tiến hành thăm dò, khai quật khảo cổ phải gửi hồ sơ xin phép thăm dò, khai quật khảo cổ đến Bộ Văn hóa - Thông tin.

2. Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin có trách nhiệm cấp giấy phép thăm dò, khai quật khảo cổ trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi nhận được hồ sơ xin phép thăm dò, khai quật khảo cổ; trường hợp không cấp giấy phép phải nêu rõ lý do bằng văn bản.

3. Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành quy chế về thăm dò, khai quật khảo cổ.

Điều 40

1. Người chủ trì cuộc thăm dò, khai quật khảo cổ phải có các điều kiện sau đây:

a) Có bằng cử nhân chuyên ngành khảo cổ học hoặc bằng cử nhân chuyên ngành khác có liên quan đến khảo cổ học;

b) Có ít nhất 5 năm trực tiếp làm công tác khảo cổ;

c) Được tổ chức xin phép thăm dò, khai quật khảo cổ đề nghị bằng văn bản với Bộ Văn hóa - Thông tin.

Trong trường hợp cần thay đổi người chủ trì thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin.

2. Tổ chức có chức năng nghiên cứu khảo cổ của Việt Nam được hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành thăm dò, khai quật khảo cổ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.

Mục 2
DI VẬT, CỔ VẬT, BẢO VẬT QUỐC GIA

Điều 41

1. Mọi di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thu được trong quá trình thăm dò, khai quật khảo cổ và do tổ chức, cá nhân phát hiện, giao nộp phải được tạm nhập vào kho bảo quản của bảo tàng cấp tỉnh nơi phát hiện. Bảo tàng cấp tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý và báo cáo Bộ Văn hóa - Thông tin.

2. Căn cứ vào giá trị và yêu cầu bảo quản di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia quy định tại khoản 1 Điều này, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin quyết định giao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia đó cho bảo tàng nhà nước có chức năng thích hợp.

3. Tổ chức, cá nhân phát hiện, giao nộp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được bồi hoàn chi phí phát hiện, bảo quản và được thưởng một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Điều 42

1. Bảo vật quốc gia được bảo vệ và bảo quản theo chế độ đặc biệt. Nhà nước dành ngân sách thích đáng để mua bảo vật quốc gia.

2. Bảo vật quốc gia phải được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đăng ký di vật, cổ vật thuộc sở hữu của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin. Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia đã đăng ký được Nhà nước thẩm định miễn phí, hướng dẫn nghiệp vụ bảo quản và tạo điều kiện để phát huy giá trị.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin quy định cụ thể thủ tục đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

3. Khi thay đổi chủ sở hữu bảo vật quốc gia ở trong nước thì chủ sở hữu cũ phải thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin nơi đăng ký bảo vật quốc gia về họ, tên và địa chỉ của chủ sở hữu mới của bảo vật quốc gia đó trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thay đổi chủ sở hữu.

Điều 43

1. Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu toàn dân, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội phải được quản lý trong các bảo tàng và không được mua bán, tặng cho; di vật, cổ vật thuộc các hình thức sở hữu khác được mua bán, trao đổi, tặng cho và để thừa kế ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; bảo vật quốc gia thuộc các hình thức sở hữu khác chỉ được mua bán, trao đổi, tặng cho và để thừa kế ở trong nước theo quy định của pháp luật.

Việc mang di vật, cổ vật ra nước ngoài phải có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin.

2. Việc mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được thực hiện theo giá thỏa thuận hoặc tổ chức đấu giá. Nhà nước được ưu tiên mua di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.

Điều 44

Việc đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Có sự bảo hiểm từ phía tiếp nhận di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;

2. Có quyết định của Thủ tướng Chính phủ cho phép đưa bảo vật quốc gia ra nước ngoài; quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin cho phép đưa di vật, cổ vật ra nước ngoài.

Điều 45

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải báo cáo Bộ Văn hóa - Thông tin về những di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia tịch thu được do tìm kiếm, mua bán, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu trái phép để Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin quyết định việc giao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia đó cho cơ quan có chức năng thích hợp.

Điều 46

Việc làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia phải bảo đảm các điều kiện sau:

1. Có mục đích rõ ràng;

2. Có bản gốc để đối chiếu;

3. Có dấu hiệu riêng để phân biệt với bản gốc;

4. Có sự đồng ý của chủ sở hữu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;

5. Có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin.

Mục 3
BẢO TÀNG

Điều 47

Bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên và xã hội (sau đây gọi là sưu tập) nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân.

Bảo tàng Việt Nam bao gồm:

1. Bảo tàng quốc gia là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập có giá trị tiêu biểu trong phạm vi cả nước;

2. Bảo tàng chuyên ngành là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập có giá trị tiêu biểu về một chuyên ngành;

3. Bảo tàng cấp tỉnh là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập có giá trị tiêu biểu ở địa phương.

4. Bảo tàng tư nhân là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về một hoặc nhiều chủ đề,

Điều 48

Bảo tàng có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Sưu tầm, kiểm kê, bảo quản và trưng bày các sưu tập;

2. Nghiên cứu khoa học về di sản văn hóa;

3. Tổ chức phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ lợi ích của toàn xã hội;

4. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ;

5. Quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật;

6. Thực hiện hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật;

7. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Điều 49

Điều kiện để thành lập bảo tàng bao gồm:

1. Có sưu tập theo một hoặc nhiều chủ đề;

2. Có nơi trưng bày, kho và phương tiện bảo quản;

3. Có người am hiểu chuyên môn phù hợp với hoạt động bảo tàng;

Điều 50

1. Thẩm quyền quyết định thành lập bảo tàng được quy định như sau:

a) Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành;

b) Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập bảo tàng cấp tỉnh, bảo tàng tư nhân.

2. Thủ tục thành lập bảo tàng được quy định như sau:

a) Tổ chức, cá nhân có nhu cầu thành lập bảo tàng phải gửi hồ sơ đề nghị thành lập đến người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này. Hồ sơ đề nghị thành lập bảo tàng gồm văn bản đề nghị thành lập, giấy xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các điều kiện được quy định tại Điều 49 của Luật này;

b) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, người có thẩm quyền quyết định thành lập bảo tàng có trách nhiệm xem xét, quyết định; trường hợp từ chối phải nêu rõ lý do bằng văn bản.

Điều 51

1. Việc xếp hạng bảo tàng căn cứ vào các tiêu chuẩn sau đây:

a) Số lượng và giá trị các sưu tập;

b) Chất lượng bảo quản và trưng bày sưu tập;

c) Cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật;

d) Mức độ chuẩn hóa đội ngũ cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ.

2. Căn cứ vào mức độ đạt được các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, Chính phủ quy định cụ thể về việc xếp hạng bảo tàng.

Điều 52

Di sản văn hóa có trong nhà truyền thống, nhà lưu niệm phải được bảo vệ và phát huy giá trị theo quy định của Luật này.

Điều 53

Nhà nước khuyến khích chủ sở hữu tổ chức trưng bày, giới thiệu rộng rãi sưu tập, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu của mình.

Khi cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa - thông tin có thể thỏa thuận với chủ sở hữu về việc sử dụng di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia để phục vụ cho công tác nghiên cứu hoặc trưng bày tại các bảo tàng nhà nước.

Điều kiện, nội dung và thời hạn sử dụng di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chủ sở hữu thỏa thuận bằng văn bản.

CHƯƠNG V
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA

Mục 1
NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA

Điều 54

Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm:

1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa;

3. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;

4. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa;

5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

6. Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

7. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

8. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa.

Điều 55

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa.

2. Bộ Văn hóa - Thông tin chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa.

3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ.

Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa.

4. Ủy ban Nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ.

Điều 56

Hội đồng di sản văn hóa quốc gia là hội đồng tư vấn của Thủ tướng Chính phủ về di sản văn hóa.

Thủ tướng Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng di sản văn hóa quốc gia.

Mục 2
NGUỒN LỰC CHO CÁC HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA

Điều 57

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các hội về văn học và nghệ thuật, khoa học và công nghệ tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Nhà nước khuyến khích việc xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Điều 58

Nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa bao gồm:

1. Ngân sách nhà nước;

2. Các khoản thu từ hoạt động sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hóa;

3. Tài trợ và đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.

Điều 59

Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt, bảo tàng quốc gia, bảo vật quốc gia, di tích lịch sử cách mạng và di sản văn hóa phi vật thể có giá trị tiêu biểu.

Điều 60

Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc được giao quản lý, sử dụng di tích, sưu tập, bảo tàng được thu phí tham quan và lệ phí sử dụng di tích, sưu tập, bảo tàng theo quy định của pháp luật.

Điều 61

1. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

2. Việc đóng góp, tài trợ cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được xem xét ghi nhận bằng các hình thức thích hợp.

Điều 62

Nguồn tài chính dành cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.

Mục 3
HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ DI SẢN VĂN HÓA

Điều 63

Nhà nước có chính sách và biện pháp đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; góp phần phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới, tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.

Điều 64

Nhà nước khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam theo quy định của pháp luật.

Điều 65

Nội dung hợp tác quốc tế về di sản văn hóa bao gồm:

1. Xây dựng và thực hiện chương trình, dự án hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

2. Tham gia các tổ chức và điều ước quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

3. Nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ hiện đại trong lĩnh vực bảo quản, tu bổ di tích, xây dựng bảo tàng, khai quật khảo cổ;

4. Trao đổi các cuộc triển lãm về di sản văn hóa;

5. Hợp tác trong việc bảo hộ di sản văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài;

6. Đào tạo, bồi dưỡng, trao đổi thông tin và kinh nghiệm trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Mục 4
THANH TRA VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO VỀ DI SẢN VĂN HÓA

Điều 66

Thanh tra Nhà nước về văn hóa - thông tin thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về di sản văn hóa, có nhiệm vụ:

1. Thanh tra việc chấp hành pháp luật về di sản văn hóa;

2. Thanh tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

3. Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về di sản văn hóa;

4. Tiếp nhận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về di sản văn hóa;

5. Kiến nghị các biện pháp để bảo đảm thi hành pháp luật về di sản văn hóa.

Điều 67

Đối tượng thanh tra có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

1. Yêu cầu đoàn thanh tra xuất trình quyết định thanh tra, thanh tra viên xuất trình thẻ thanh tra viên và thực hiện đúng pháp luật về thanh tra;

2. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quyết định thanh tra, hành vi của thanh tra viên và kết luận thanh tra khi thấy có căn cứ cho là không đúng pháp luật;

3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại do các biện pháp xử lý không đúng pháp luật của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên gây ra;

4. Thực hiện yêu cầu của đoàn thanh tra, thanh tra viên, tạo điều kiện để thanh tra thực hiện nhiệm vụ; chấp hành các quyết định xử lý của đoàn thanh tra, thanh tra viên theo quy định của pháp luật.

Điều 68

1. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc thi hành pháp luật về di sản văn hóa.

2. Cá nhân có quyền tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật về di sản văn hóa với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

3. Thẩm quyền, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và khởi kiện được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Chương VI
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 69

Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 70

Người nào phát hiện được di sản văn hóa mà không tự giác khai báo, cố tình chiếm đoạt hoặc có hành vi gây hư hại, hủy hoại thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; di sản văn hóa đó bị Nhà nước thu hồi.

Điều 71

Người nào vi phạm các quy định của pháp luật về di sản văn hóa thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 72

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm các quy định của pháp luật về di sản văn hóa thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 73

Luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2002.

Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Điều 74

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001./.


QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH
(Đã ký)





Nguyễn Văn An

User avatar
9PN
Posts: 4035
Joined: Wed 16 Aug, 2006 12:27 am
Location: California

Post by 9PN » Tue 02 Dec, 2008 5:41 am

cổ tiền gia wrote:Các Bác ơi vừa rồi là mùa lễ "TẠ ƠN" chứ không phải mùa "CHAY TỊNH" đâu các Bác nhé, :lol: :lol: :lol: thấy các Bác cổ tiền trước tình hình khủng hoảng kinh tế chuyển sang ăn chay niệm phật hết cả, buồn quá. :( :( :(

Các bác giấy tiền ăn nên làm ra quá, chúc mừng các Bác nhé :lol:
Các bác Cỗ Tiền đang nghiên cứu nghị định... :lol: :lol: :P :P :lol: :lol:

Các bác tiền giấy thì không răng mô vì Tiền giấy Đông Dương trên 100 tuổi thì xuất xứ từ...Tây. :wink: :wink: :wink:

User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Post by Khải-SG » Sat 06 Dec, 2008 11:25 am

Đọc Hanoi Mới on-line :


Tiếp tục giám định cổ vật tư nhân 06/12/2008 15:33

(HNMO) - Ngày 6/12/2008, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với Hội đồng Giám định cổ vật quốc gia tiếp tục tổ chức xét duyệt tại chỗ kết quả giám định cổ vật thuộc sở hữu của 2 nhà sưu tập tư nhân: Nguyễn Thị Phương Lan ở phố Hoàng Ngọc Phách và Nguyễn Thế Bậng ở phố Ngô Tất Tố.

Những cổ vật của nhà sưu tập Nguyễn Thị Phương Lan được trưng bày ngay tại quán cà phê mang một cái tên gợi sự hoài cổ và đậm chất văn hoá truyền thống: Cà phê cổ vật. Trong số khoảng 200 cổ vật trưng bày tại đây, các nhà giám định chú ý đến nhiều đồ gốm men nâu thời Lý- Trần- Lê từ thế kỷ 12 đến 15, đặc biệt tập trung khá nhiều đồ trang sức, đồ y phục, nhất là những móc áo thời văn hoá Đông Sơn và thời Hán.

Cũng có gần 200 cổ vật của nhà sưu tập Nguyễn Thế Bậng, bao gồm đồ gốm và đồng thuộc nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Qua giám định, một số hiện vật có giá trị đã được phát hiện, ví như trống đồng thời Lý, nghiên mực thời Trần hay chiếc chân đèn gốm ghi rõ niên hiệu Hoằng Định thời Hậu Lê. Đây là những hiện vật quý hiếm, tạo sức hấp dẫn cho các bảo tàng tư nhân đang trong quá trình tiến tới thành lập và phát triển, hòa cùng hệ thống bảo tàng chung của Thủ đô Hà Nội.

Chí Thành


http://www.hanoimoi.com.vn/vn/53/190043/

http://www.hanoimoi.com.vn/vn/53/189447/


http://www.hanoimoi.com.vn/vn/53/188600/

ImageImage
Image
Con người cần phải sống có đạo lý & đạo lý đòi hỏi con người sự công bằng. Nghèo cho sạch, rách cho thơm.

nt
Posts: 1563
Joined: Thu 04 Sep, 2008 8:57 pm

Post by nt » Sat 06 Dec, 2008 1:47 pm

Bác Khải-SG làm ơn làm rõ dùm vài sự việc như sau;
1---Nhà nước giám định sưu tâp tư nhân là:
A/-Chủ nhân phải tự động mang hàng đến để xin đươc kiểm nghiệm hay nhà nước thấy ai nổi tiếng trong giối sưu tập thì gửi giấy mời lên trình hàng đẽ kiểm nghiệm???..
B/- Sau khi kiểm nghiệm thấy có giá tri thì nhà nước có thu mua để gôp vào bào tàng Hanoi ??? hay là tư nhân cứ giữ đó khi nào cần thì nhà nước mời đem hàng tới trình bầy.. Như mấy câu cùa nhà báo nói: ----
----"-Sau kết quả giám định, các nhà sưu tập sẽ được ngành văn hoá cấp đăng ký cổ vật tư nhân và đây cũng là cơ sở để thực hiện công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này, đồng thời là một nguồn hiện vật bổ sung cho Bảo tàng Hà Nội hiện đang còn thiếu theo phương hướng xã hội hoá."
...."....Cùng với nhiều đồ gốm Bát Tràng tiêu biểu khác, đây là hiện vật mà Bảo tàng Hà Nội cần quan tâm sưu tầm để chuẩn bị cho trưng bày."
2---Báo chỉ nói khiểm nghiệm mấy nhà sưu tập nỗi tiềng về đồ cổ, Còn các thứ khác có bị chi phối không....??..Hay chưa tới phiên..???
Trong tiến hành công tác, nhà báo chỉ nói có bước thứ #2( Giám định khiểm nghiệm), chứ không nói rõ nhà sưu tầm phải làm gì vói bước #1 (xin/hay tự nguyện đem hàng đi kiểm định như thế nào ??) bước thứ #3 chót =( Sau khi kiểm định thì số phận hàng sẽ ra sao??= THu mua ? Thu giử ?? Hay tự quản vói quyền đươc bán hay không??)
Mới có một văn bản mà sao đã thấy tối mò mò......

User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Post by Khải-SG » Sat 06 Dec, 2008 2:01 pm

Giám định có nghĩa là các cán bộ bảo tàng, các nhà cổ vật học, nghiên cứu, sưu tầm gia, đại tiểu cổ vật gia nào đó có kinh nghiệm,... Ngưòi ta biết anh có hàng quý, họ sẽ đến xin xem xét, sờ mó, nhìn ngắm, vuốt ve hiện vật và xem nó cổ như thế nào, cổ thật hay giả cổ, bao nhiêu tuổi, thời đại nào niên đại nào,... để ghi chép sổ sách, ghi nhận hiện vật quý có mặt ...Còn lại không sao cả. Chả ai tịch thu hay làm gì sấc mà lo sợ. Còn chuyện anh bán cho ai trong nước, cho bảo tàng cũng được, thì thuận mua vửa bán thôi. Còn bán để xuất cảng thì xin thưa...e hèm, khó. Tuy nhiên khi bảo tàng có cuộc TL trưng bày mà cần hiện vật của anh cho thêm phong phú bộ sưu tập (của nước ta vậy) thì họ có thể mời anh trưng bày chung hoăc mượn của anh để trưng bày 1 thời gian. Y như TL Tiền vừa rôì tại BT Tp HCM. Không có gì lo lắng hết. Của Bờm vẫn là của Bờm nó không chạy đi đâu mà sợ, dù có "3 bò 9 trâu" cũng không ai rinh đi đâu được mà. Vậy thôi, bác NT chớ lo lo lắng lắng làm gì. Chúng em bên ni chả lo gì mà bác thì ở bên nớ lại cứ lo. Quả thật là "la xo" bác ơi :lol: :lol: :lol:

Giám định khác với kiểm định và kiểm nghiệm bác ơi bác à!
Con người cần phải sống có đạo lý & đạo lý đòi hỏi con người sự công bằng. Nghèo cho sạch, rách cho thơm.

Post Reply

Return to “Tài liệu tham khảo”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 0 guests