Lược sử đồng tiền nước Việt.

Post Reply
User avatar
DungDang
Posts: 362
Joined: Fri 28 Jul, 2006 5:40 am
Location: Gia Ðịnh

Lược sử đồng tiền nước Việt.

Post by DungDang » Thu 11 Jun, 2009 9:57 am

Xin chào mọi người.

Thời gian qua, trong quá trình sưu tập tôi có thống kê một ít tài liệu để phục vụ sưu tầm. Nay tôi phát triển nó lên thành một tập hợp các bài viết, tạm gọi là LƯỢC SỬ ÐỒNG TIỀN NƯỚC VIỆT chia làm nhiều kỳ, mỗi kỳ là 1 triều đại hoặc 1 giai đoạn lịch sử hoặc 1 vấn đề...cụ thể.

Mỗi bài cơ bản có 4 phần :
- Lược sử nước Việt.
- Viết một ít thông tin về các đồng tiền.
- Hình ảnh về các đồng tiền.
- Suy nghĩ, quan điểm của riêng tôi.

Tôi nghĩ, đề tài này không quan trọng lắm với người chơi thâm niên nhưng có thông tin để tranh luận và hữu ích cho người mới tham gia sưu tập tiền.

Tôi rất mong các thành viên diễn đàn Viet-numis đón nhận và góp ý thêm cho tôi.

Trân trọng.
Sự phùng như ý nghi hưu tức.
Phú quý trường trung dị bạch đầu.
dungdang

User avatar
DungDang
Posts: 362
Joined: Fri 28 Jul, 2006 5:40 am
Location: Gia Ðịnh

Post by DungDang » Mon 15 Jun, 2009 7:03 pm

Khái quát tình hình tiền tệ nước ta từ trước Công nguyên đến Nhà Đinh :
Nước Việt ta xưa từ trước đến Công Nguyên chưa có phép dùng tiền, việc mua bán lúc sơ khai chủ yếu là đổi chác vật ngang giá hoặc dùng tiền vỏ ốc….
Từ Công nguyên, trải qua gần một Thế kỷ, dân tộc Việt bị xâm lược và đô hộ của nước ngoài. Trong những khoảng thời gian bị đô hộ, người Việt phải dùng chung đồng tiền của triều đình Nhà nước đô hộ, phần lớn người Việt chịu ảnh hưởng tiền tệ của các triều đại Trung Hoa cùng thời. Xã hội thời bấy giờ lưu hành những đồng tiền bằng đồng (ngũ thù, hóa tuyền…). Về sau từ nhà Đường, các Triều đại Trung Hoa phát hành những đồng tiền có niên hiệu cùng thời để chi dùng trong nước và còn để mua bán, lưu thông ở Nước Việt và một số quốc gia lân cận. Trong đó, đồng tiền khá phổ biến là tiền Vương Mãng do Triều Vương Mãng (9 – 24) của Trung Hoa đúc và lưu hành cả ở Âu Lạc thời bấy giờ gồm : 28 loại có tiền vàng, bạc, tuyền, bối, bố, quy... Tiền này có mặt ở Việt Nam rất sớm, có thể xem đây là đồng tiền ra đời đầu tiên của Trung Hoa và là đồng tiền đô hộ đầu tiên có ở Nước Việt xưa. Hiện nay, ta còn có thể sưu tập các loại tiền này nhưng khá hiếm.
Trong những khoảng thời gian giành được độc lập dân tộc, tuy dài ngắn khác nhau nhưng các nhà nước thời bấy giờ đều có phát hành tiền để lưu thông trong lãnh thổ. Đến khi giành được độc lập thống nhất đất nước, Việt Nam mới thống nhất được hệ thống tiền tệ.
Người Việt xưa bắt đầu có những đồng tiền riêng của đất nước mình có lẽ từ thời Nhà Tiền Lý (542 – 555). Tuy nhiên, đến nay chúng ta chỉ mới xác định được đồng tiền từ Nhà ĐINH (968 – 980).
Các triều đại Phong kiến Việt Nam hầu hết đều phát hành tiền. Đó là những đồng tiền đánh dấu uy quyền của mỗi thời đại. Đồng tiền có hình tròn, lỗ vuông ở giữa, xung quanh lỗ đúc nổi 4 chữ Hán nêu rõ niên đại và chữ Thông Bửu hoặc Nguyên Bửu. Chỉ một lần phát hành tiền giấy Thông bửu Hội sao ngắn ngủi vào cuối thời nhà trần và thời Nhà Hồ (1400-1407).
Từ Thế kỷ thứ IX, phần lớn các Nhà nước phong kiến nước ta đều cho phát hành tiền. Tiền tệ có giá trị lớn là những nén, thỏi bằng bạc hoặc bằng vàng (từ thời Cảnh Thịnh, Gia Long về sau)… Ngoài ra, còn có các loại tiền gọi là Hưng Bửu của Nhà Đinh, Trấn Bửu của Nhà tiền Lê, các đồng tiền Cự bửu, Chí bửu, Chính bửu, Dụng bửu, Đại bửu, Nội bửu, Thái bửu, Thuận bửu, Tuyền bửu, Trung bửu, Trọng bửu, Vĩnh bửu... do Vua Cảnh Hưng đúc. Cũng có một số đồng tiền Bình bửu, Chi bửu, Chính bửu, Nguyên bửu, Thánh bửu, Thông bửu …cỡ nhỏ hơn những đồng tiền khác, hầu hết tiền nhỏ này do các sở đúc tiền ở Đàng trong đúc dưới thời cai trị của các Chúa Nguyễn (có thuyết cho rằng do Tổng binh Mạc Thiên Tứ đúc vào khoảng năm 1736 tại Hà Tiên)
Để quý vị hình dung một cách có hệ thống các đồng tiền của nước Việt từ thời nhà Đinh đến nay, tôi xin liệt kê hình ảnh các đồng tiền kèm trích dẫn chính sử theo trình tự thời gian được phân nhiều kỳ, mỗi kỳ theo một triều đại để quý vị tham khảo. Đồng thời, qua mỗi triều đại tôi cũng sẽ viết thêm phần ý kiến hoặc lạm bàn của tôi để rộng đường dư luận.
Last edited by DungDang on Tue 16 Jun, 2009 7:32 am, edited 1 time in total.

User avatar
DungDang
Posts: 362
Joined: Fri 28 Jul, 2006 5:40 am
Location: Gia Ðịnh

Post by DungDang » Mon 15 Jun, 2009 7:04 pm

KỲ I. Tiền tệ thời nhà Đinh :

NHÀ ĐINH tồn tại từ năm 968 đến năm 980 truyền được 2 đời vua :
Quốc hiệu : CỒ VIỆT (Đại Cù Việt)
Kinh đô : Hoa Lư.
Niên hiệu : Thái Bình.

1. Tiên Hoàng Đế – Đinh Bộ Lĩnh (968 – 979).

Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh người quê ở Hoa Lư, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình nguyên là bộ tướng của sứ quân Trần Lãm, đứng lên dẹp được loạn 12 Sứ quân lên ngôi vua xưng hiệu Đinh Tiên Hoàng Đế. Ông là người có công với nước, tổ chức binh lính thành hàng ngũ để giữ vững ngoại xâm và trị an trong nước. Ông đã cho đúc loại tiền độc lập của nước nhà, thu đổi những tiền Trung Hoa để xóa bỏ tàn tích lệ thuộc khi trước.

Vua Đinh Tiên Hoàng xuất thân là trẻ chăn trâu có óc tổ chức đã mở ra kỷ nguyên độc lập, tự chủ cho nước nhà. Ngài đặt tên nước là CỒ VIỆT (Đại Cù Việt), lấy niên hiệu Thái Bình và chọn Hoa Lư làm đế đô. Hoa Lư thuộc xã Trường Yên, tỉnh Hà Nam bây giờ, lợi dụng địa thế thiên nhiên hiểm trở để xây dựng một thành trị độc đáo. Thành Hoa Lư nằm trong thung lũng bằng phẳng, ba mặt có núi của dãy Tràng An bao bọc. Mặt Tây Bắc ít núi có dòng sông Hoàng Long án ngữ. Những đoạn không có núi đá vôi chắn, ông cho nối từ chân núi nọ sang chân núi kia bằng tường thành do quân dân đắp, cao khoảng 10m, rộng 15m. Thành Hoa Lư gồm hai vòng thành nằm cạnh nhau, liên hệ với nhau bằng một ngách núi ở giữa gọi là Quèn Vòng. Thành ngoại ở phía đông, nơi xây dựng cung điện nhà vua, thành nội ở phía Tây gần sông Hoàng Long nơi nuôi dạy và bảo vệ trẻ em. Nằm trong vùng có núi non, hang động, có sông ngòi uốn quanh, nhà cửa, cung điện, đình chùa trong thành làm cho thành Hoa Lư càng thêm hùng tráng.

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và người con lớn bị gian thần Đỗ Thích ám sát chết. Tiên Hoàng làm vua được 12 năm, thọ 56 tuổi. Con là Vệ Ưởng được truyền ngôi, tức là Đinh Phế Đế.


2. Phế Đế – Đinh Toàn (979 – 980).


Vua Tiên Hoàng mất, triều thần tôn Đinh Toàn lên ngôi lúc lên 6 tuổi có các đại thần cùng giúp trông coi việc nước. Trong số các tướng có Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn vì nắm toàn bộ binh quyền nên tự xưng là Phó Vương tự tiện ra vào cung cấm. Một số đại thần muốn trừ nạn tiếm quyền nên dấy binh đánh Lê Hoàn nhưng thất bại đều bị giết chết cả.

Năm 980, nhà Tống thấy Tiên Hoàng đã mất, vua còn quá nhỏ, nội bộ trong triều đình chia rẽ nên chuẩn bị mang quân sang chiếm nước ta. Trước tình hình nguy cấp đó, Thái Hậu Dương Vân Nga và các tướng sĩ trao nghi trượng, long bào cho Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn để chuẩn bị kháng chiến.

Vì Vua còn quá nhỏ không điều khiển được việc nước nên chỉ ở ngôi được 8 tháng. Khi quân Tống sang xâm lược, Thái hậu và triều đình truất phế, giáng làm Vệ vương (vì vậy được gọi là Đinh Phế Đế) và tôn Lê Hoàn lên làm vua, tức vua Lê Đại Hành.

Lạm bàn về đồng tiền Thái Bình hưng bửu :

Nước ta bị lệ thuộc Trung Hoa nhiều năm nên các đồng tiền Trung Hoa cùng thời là tiền tệ chi dùng cho cả nước. Khi lên ngôi, Đinh Tiên Hoàng liền cho đúc loại tiền mang niên hiệu của mình để chi dùng trong dân chúng, chứng tỏ nước ta giờ đây đã có chủ quyền. Đồng tiền mang tên ĐẠI BÌNH HƯNG BỬU, vì là đúc lần đầu nên kỹ thuật khắc, đúc khá thô sơ nhưng dày dặn, được dân chúng hoan nghênh đón nhận với mong nước nhà được an bình, hưng thịnh.

Được xem là đồng tiền đầu tiên của một nước tự chủ, tiền đời nhà Đinh được đúc bằng đồng nhiều tạp chất nên ngày nay phần lớn đều bị hoen rỉ, đáng chú ý là nét chữ Đại Bình Hưng Bửu rất thô sơ nên có giả thuyết đó là chữ Thái bị mất dấu chấm phía dưới nên trông giống chữ Đại nhưng theo một số nhà ngôn ngữ học vào thời ấy chữ Đại hay chữ Thái đều đọc và nghĩa như nhau. Thực tế qua sưu tầm, tất cả những đồng mà tôi đã gặp đều viết ĐẠI BÌNH HƯNG BỬU nhưng căn cứ Niên hiệu của Vua Đinh Tiên Hoàng nên hầu hết các nhà nghiên cứu, các nhà sưu tập đều thống nhất đọc là Thái Bình Hưng Bảo.

Đến nay, về cơ bản chúng ta đã tìm thấy ba loại tiền THÁI BÌNH HƯNG BỬU. Một loại phía sau có chữ Đinh nằm trên lỗ vuông, một loại có chữ Đinh nằm dưới lỗ vuông và một loại mặt sau không có chữ. Hầu hết những đồng có chữ Đinh dưới lỗ vuông thường dày và nặng hơn hai lọai kia.
Trong quá trình sưu tập, như đã nói ở trên tôi nhận thấy tiền Thái Bình hưng bửu có 3 loại cơ bản và mức độ quý hiếm được phân tích như sau :

- Loại Thái Bình Hưng Bửu : Lưng trơn là hiếm nhất.

[fullalbumimg]646[/fullalbumimg]

- Loại Thái Bình Hưng Bửu : Chữ đinh trên lỗ vuông

[fullalbumimg]645[/fullalbumimg]

- Loại Thái Bình Hưng Bửu : Chữ đinh dưới lỗ vuông

[fullalbumimg]644[/fullalbumimg]

Một điều thú vị là mặc dù được xem là đồng tiền đầu tiên do người Việt đúc, niềm tự hào của dân tộc đã ra đời cách đây hơn 1.000 năm, trải qua nhiều thăng trầm của đất nước nhưng đến nay hầu như đồng tiền này chưa thấy bị làm giả.


Tuy chính sử không thấy nói việc đúc tiền thời nhà Đinh nhưng qua nhiều tài liệu nghiên cứu và lấy mức độ quý hiếm của đồng tiền, tôi xin phép được lạm bàn :

Tiền Thái Bình Hưng Bửu có chữ đinh trên lỗ vuông là do Vua Đinh Tiên Hoàng đúc với chữ đinh ở vị trí trên lỗ vuông để khẳng định chủ quyền quốc gia, quốc tính. Tiền này được đúc với số lượng khá nhiều nên qua bao nhiêu dâu bể đến nay ta vẫn còn tìm thấy khá nhiều.

Tiền Thái Bình Hưng Bửu có chữ đinh dưới lỗ vuông được đúc dưới triều Vua Đinh Toàn với chữ đinh ở vị trí dưới lỗ vuông mang hàm ý khiêm nhường ở dưới vua cha. Những đồng tiền ở dạng này thường dày dặn và nặng hơn những đồng Thái bình hưng bửu khác, tôi cho rằng kinh tế quốc gia đã đi vào ổn định và phát triển, Vua Đinh Toàn khi lên ngôi vẫn giữ niên hiệu Thái Bình của vua cha và cho đúc tiền này.

Tiền Thái Bình Hưng Bửu lưng tiền để trơn được Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cho đúc khi được Thái hậu Dương Vân Nga và các tướng sĩ trao quyền nhưng chưa lên ngôi vua với hình thức lưng tiền để trơn ngụ ý rằng : Nước Cồ Việt vẫn còn chủ quyền của Nhà Đinh với niên hiệu Thái Bình nhưng tiền không do người họ Đinh đúc để chi dùng trong dân chúng và chuẩn bị sửa soạn đánh quân xâm lược Bắc Tống lúc bấy giờ lăm le xâm phạm bờ cõi nước ta.
Mặt khác, vì ngôi vua không phải là truyền thừa nên cũng cần phải có giai đoạn tế nhị để làm bước đệm (cũng có thể là được đúc vào 4 năm đầu niên hiệu Thiên Phúc) đồng thời mẫu khuôn đúc tiền Thái Bình đang có sẵn chỉ cần bỏ chữ đinh ở mặt lưng đi là có thể đúc tiền dùng được ngay. Tiền này được đúc với số lượng ít hơn nên ngày nay hiếm hơn hai loại có chữ đinh ở lưng tiền.

Ngoài ra, trong quá trình sưu tập, người ta cũng phát hiện những đồng tiền Thái Bình hưng bửu có chữ đinh viết ngược hoặc ở vị trí 3 giờ trên lưng đồng tiền. Tôi cho rằng đây là những đồng tiền bị lỗi trong khi đúc, không đại diện cho tiền tệ thời nhà Đinh.

Post Reply

Return to “Đặng Dũng”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest