Tài liệu: Người "buôn tiền" thành bộ trưởng

Post Reply
User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Tài liệu: Người "buôn tiền" thành bộ t

Post by Khải-SG » Thu 17 May, 2012 2:49 am

Tư liệu để trong máy nhà lâu ngày, nay tạm post ở đây khi nào xong sẽ báo Mod. tính đưa ra ngoài:

Kỳ 1: Trở lại câu chuyện 16 tấn vàng ngày 30/4/1975

Năm 1986, ông làm Bộ trưởng Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước (nay là Thống đốc). Trước đó, ngày 30/4/1975, với tư cách là Trưởng ban Quân quản các ngân hàng Sài Gòn - Gia Định, ông là người tổ chức tiếp quản toàn bộ tiền, vàng của chế độ Sài Gòn cũ.
Trước đó nữa, ông là một trong những người chỉ huy "đường dây buôn tiền" có một không hai trong lịch sử nhân loại: Chuyển hàng trăm triệu USD tiền viện trợ thành tiền Sài Gòn ngay giữa thành phố Sài Gòn để phục vụ cho các chiến trường đánh Mỹ. Những câu chuyện về ông ly kỳ đến mức ngay cả những nhà làm phim trinh thám tài ba nhất cũng không tưởng tượng nổi. Ông là Lữ Minh Châu, thường gọi là ông Ba Châu.
Tôi đã phải năn nỉ suốt 2 năm trời ông Ba Châu mới đồng ý cho tôi viết về ông. Những con người chính trực một lòng vì dân vì nước bao giờ cũng thật thà khiêm tốn. Hệt một tính cách như Phạm Xuân Ẩn, ông Ba Châu nói công của ông "bé tí tẹo" thôi, không có gì để viết cả. Cái "đường dây buôn tiền", tức là Ban Tài chính đặc biệt của Trung ương Cục là do ông Phạm Hùng lập ra, ông Mười Phi là trưởng, còn ông chỉ là phó. Mãi đến chiều hôm qua, ông còn dặn: "Cậu phải viết cho cẩn thận, đề cao tôi là không có sức thuyết phục đâu!". Quả là "mệt" với sự khiêm nhường của ông già này.

Nguyễn Văn Thiệu không và không thể lấy được 16 tấn vàng

Và câu chuyện về ông xin được bắt đầu ở... khúc giữa. Nhân vừa rồi báo chí lật lại vụ Nguyễn Văn Thiệu "cuỗm" 16 tấn vàng khi bỏ chạy ra nước ngoài, hỏi ông là "đúng địa chỉ" rồi, vì ngày 30/4/1975 ông làm Trưởng ban Quân quản các ngân hàng Sài Gòn - Gia Định.
Chuyện Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ Nguyễn Văn Thiệu mang theo 16 tấn vàng hồi đó được báo chí loan tin, sau này người nói có người nói không. Gần đây BBC lại đề cập đến thông tin này. Mới đây nhất Báo Tuổi Trẻ có một loạt bài dẫn lời các nhân chứng nói rằng không có chuyện đó. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức từ phía Nhà nước về vấn đề này.
Tôi hỏi ông Ba Châu chuyện đó có hay không, ông nói ngay: "Hoàn toàn không có. 16 tấn vàng vẫn còn nguyên vẹn trong kho của ngân hàng". "Nguyễn Văn Thiệu không lấy vàng đi, tại sao lâu nay Nhà nước mình không nói lại cho rõ?". "Mình biết rất rõ là số vàng đó vẫn còn, đã được kiểm kê cẩn thận và đưa vào tài sản quốc gia, nhưng không đính chính vì đó là tin đồn đăng trên báo chí, có ai đặt câu hỏi chính thức với Nhà nước đâu". "Sự thật là Nguyễn Văn Thiệu có ý định lấy đi 16 tấn vàng đó không?". "Sau này chúng ta mới biết Nguyễn Văn Thiệu có kế hoạch đưa số vàng đó đi, nhưng không đưa đi được. Lấy số vàng đó đi là không dễ chút nào hết". "Còn tiền thì sao? Theo hồi ức của ông Huỳnh Bửu Sơn đăng trên Tuổi Trẻ thì tổng giá trị giấy bạc dự trữ trong kho lúc đó được kiểm kê hơn 1.000 tỉ đồng, gấp đôi lượng tiền lưu hành tại miền Nam...". "Toàn bộ tiền và vàng dự trữ trong ngân hàng chúng ta tiếp quản nguyên vẹn cùng với đầy đủ hồ sơ sổ sách. Theo thống kê thì khối lượng tiền trong lưu thông thời điểm đó là 615 tỉ, gồm tiền mặt trong lưu thông 440 tỉ, còn lại nằm trong tài khoản tiền gửi. Tôi không thể nhớ chính xác số giấy bạc dự trữ, những số liệu kiểm kê đó vẫn còn trong hồ sơ lưu trữ. Trong kho dự trữ còn có 125 tỉ tiền in theo kiểu mới chưa phát hành, riêng số giấy bạc này được lệnh phải thiêu hủy, vì đó là số giấy bạc mà chính quyền Sài Gòn chuẩn bị để đổi tiền". "Còn châu báu, nữ trang?". "Châu báu, nữ trang là đồ người ta gửi tại ngân hàng. Những thứ đó phải trả lại cho người gửi".
"Khi tiếp quản, liệu tiền, vàng có bị thất thoát không?". "Theo tôi thì không thể. Ngân hàng của chính quyền cũ quản lý rất chặt, ta cũng chặt". "Số vàng đó sau này đi về đâu?". "Nó trở thành tài sản quốc gia, được quản lý theo luật pháp của chính quyền cách mạng, sau đó là của Nhà nước Việt Nam thống nhất". "Còn tiền?". "Tiền cũng vậy, được đưa vào lưu thông, đến năm 1976 thì đổi tiền mới".

Trả hết lại tiền cho dân

Việc tiếp quản các ngân hàng với tiền, vàng còn nguyên vẹn là một chuyện ngoạn mục. Việc xử lý sau đó còn ngoạn mục hơn. Ông Ba Châu nói: "Đêm 30/4, Ban Quân quản các ngân hàng ra lời kêu gọi tất cả các quan chức, nhân viên các ngân hàng, kể cả thống đốc đúng 8h ngày 1/5 có mặt tại 17 Bến Chương Dương để nghe công bố lệnh tiếp quản các ngân hàng và lệnh cho các ngân hàng ngưng hoạt động, đồng thời công bố chính sách của cách mạng: chỉ quốc hữu hóa tài sản của địch, còn tài sản của nhân dân, của các tổ chức quốc tế sẽ được bảo đảm không bị xâm phạm. Lúc đó Thống đốc Ngân hàng quốc gia Lê Quang Uyển và một số phó thống đốc cũng có mặt. Những người có liên quan trực tiếp đến việc quản lý, bảo vệ tài sản được giữ lại làm việc, những anh chị em khác về nhà chờ triệu tập".
Sau khi tiếp quản, tài sản thuộc Ngân hàng Trung ương được bàn giao toàn bộ cho Ngân hàng Trung ương của Chính phủ Cách mạng lâm thời, ngân hàng này mang tên Ngân hàng quốc gia miền Nam, do ông Trần Dương làm Thống đốc. Một ngân hàng nữa được thành lập, đó là Ngân hàng quốc gia Sài Gòn Gia Định, ông Ba Châu làm Giám đốc. Hồi đó có người thắc mắc tại sao lại có cái tên "Ngân hàng quốc gia", ông Ba Châu nói, cái này rất có lợi. Điều lợi thứ nhất, là chính cái tên đó đã giữ được "chân đứng" cho chúng ta, vì "Ngân hàng quốc gia Việt Nam" của chính quyền Sài Gòn cũ là thành viên sáng lập Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và là thành viên của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng như của Ngân hàng thế giới (WB). Điều lợi thứ hai là kế thừa được quan hệ tín dụng quốc tế của ngân hàng cũ. "Thực ra, tiền gửi của ngân hàng cũ ở nước ngoài vẫn còn, khoảng hơn 100 triệu USD", ông Ba Châu tiết lộ.

"Chúng ta có trả hết lại tiền cho dân không?". "Có chứ. Dân hỏi, các tổ chức quốc tế hỏi. Vì vậy phải dựng ngay cái Ngân hàng quốc gia Sài Gòn Gia Định. Chỉ trong vòng một tháng rưỡi đã bắt đầu trả tiền tiết kiệm, đầu tiên trả khoảng 10% và trả hết ngay trong năm đó, năm 1975. Riêng các tổ chức quốc tế được trả nhanh hơn, trả ngay một lần". (Còn tiếp)
Con người cần phải sống có đạo lý & đạo lý đòi hỏi con người sự công bằng. Nghèo cho sạch, rách cho thơm.

User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Post by Khải-SG » Thu 17 May, 2012 2:59 am

Kỳ 2: Đường đi của đồng đô la đến chiến trường

Để hiểu được những hoạt động của ông Ba Châu và đồng đội, cần biết qua về một hoạt động đặc biệt trong chiến tranh chống Mỹ. Đó là hoạt động tài chính. Do yêu cầu bảo mật, hoạt động này không được nhiều người biết đến sau chiến tranh, kéo theo đó việc khen thưởng cũng "tạm gác" lại.
Sau này, khi mọi thứ có thể công khai thì nó vẫn không được để ý tới, một phần do những người trong cuộc âm thầm lặng lẽ không muốn tự nói về mình, một phần do bộ máy quan liêu che lấp, đến mức một bản đề nghị khen thưởng được gửi lên rất nhiều năm, trong đó có chữ ký của nhiều vị từng giữ trọng trách rất cao của Đảng và Nhà nước, đến nay vẫn rơi vào quên lãng. Chuyện bức xúc này chúng tôi sẽ đề cập đến ở những kỳ sau.
Ai cũng biết toàn bộ các chiến khu trong kháng chiến chống Mỹ, từ bộ đội đến các cơ quan dân chính đảng, đều sử dụng tiền Sài Gòn để chi tiêu, mua sắm. Nhưng tiền Sài Gòn đó ở đâu mà có, ai đã chuyển nó ra vùng giải phóng và chuyển bằng cách nào thì vẫn là điều bí ẩn, không mấy ai hình dung nổi.
Chuyện này có thể tóm tắt như sau: Chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam gồm nhiều thứ, trong đó có tiền. Nguồn tiền chi viện một phần từ miền Bắc, một phần lớn từ các khoản viện trợ của các nước anh em, của một số tổ chức, cá nhân quốc tế và Việt kiều có cảm tình với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Muốn chuyển nguồn tài chính đó vào miền Nam trước hết phải đổi ra đồng ngoại tệ mạnh, chủ yếu là đô la Mỹ, từ đó mới đổi ra tiền Sài Gòn để chi tiêu. Một hệ thống tổ chức tinh nhuệ và tuyệt đối bí mật được thành lập và triển khai thông suốt từ miền Bắc vào Trung ương Cục và ở nước ngoài. Tại miền Bắc, một bộ phận đặc biệt bí mật làm nhiệm vụ này được đặt trong Ngân hàng Ngoại thương mang bí số B29 do một phó thủ tướng trực tiếp chỉ đạo, lúc đầu là ông Phạm Hùng, khi ông Phạm Hùng vào Nam, người thay thế là ông Lê Thanh Nghị. Ở miền Nam, Ban Tài chính đặc biệt mang bí số N2683 thuộc Trung ương Cục đảm trách nhiệm vụ này. "Trụ sở" của N2683 vừa ở chiến khu, vừa ở Campuchia, vừa ở ngay giữa Sài Gòn. Hệ thống còn có các "chân rết" ở Bắc Kinh, Hồng Kông, Paris, Campuchia... do các cán bộ trung kiên có năng lực chuyên môn cao đảm trách.
Từ năm 1965 trở về trước, đô la Mỹ được đưa vào chiến trường theo một phương thức thô sơ nhất: Mang đô la mặt giao trực tiếp cho Ban Tài chính đặc biệt, từ đó tổ chức đổi ra tiền Sài Gòn hoặc tiền riel (Campuchia), tiền baht (Thái Lan) rồi giao cho các chiến trường. Theo lời một trợ lý của ông Phạm Hùng: "Trong một số năm sau 1960, cách chi viện tiền cho chiến trường B2 (Nam Bộ và Khu 6) là đưa đô la Mỹ (tiền mặt) cho một tổ chức tài chính đặc biệt do anh Thăng Long phụ trách ở trong Nam. Tại Cục Ngoại hối của Ngân hàng Trung ương ở Hà Nội có giữ một quỹ mật đô la Mỹ do các nước bạn viện trợ, dành cho miền Nam. Anh Hai Hùng (tức Phạm Hùng) là người quyết định sử dụng quỹ này. Phải làm sao đưa một khối lượng đô la tiền mặt lớn, mỗi lần vài ba triệu đến chiến trường vừa nhanh vừa an toàn? Và không phải chỉ một vài lần mà nhiều lần như vậy trong một năm. Công việc này được thực hiện như sau: Khi cần đưa tiền đi, anh Hai Hùng điện gọi anh Thùy Vũ (người phụ trách cơ quan đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Phnom Penh) từ Campuchia về Hà Nội làm việc. Tôi cầm lệnh xuất tiền của anh Hai đến Cục Ngoại hối gặp anh Doãn - Cục trưởng hoặc anh Bảy Ích - Cục phó. Nhận tiền xong, dùng xe anh Hai Hùng chở tiền về phòng làm việc của tôi tại nhà anh Hai Hùng. Ở đây, tiền được gói ghém dưới dạng hàng mẫu để giao cho anh Thùy Vũ mang vào Phnom Penh bằng máy bay. Lúc đó Hà Nội đã có cơ quan đại diện thương mại tại Phnom Penh rồi. Mỗi lần gửi tiền, tôi phải nghĩ cách nghi trang khác nhau. Mấy triệu đô la là một khối lớn, không thể xách tay mà phải gửi theo hàng, cho nên phải nghi trang khéo léo. Việc này tôi phải tự làm lấy. Trường hợp nào cần sử dụng kỹ thuật thì người tham gia công việc phải được chọn cẩn thận và chỉ được biết một phần nhỏ công việc mà thôi. Tiền đến Phnom Penh, anh Thùy Vũ giao lại cho người của anh Thăng Long. Và thường là một hai tuần sau đó, tôi nhận được điện từ Trung ương Cục miền Nam xác nhận tiền đã nhận đủ" (trích từ Thời báo kinh tế Sài Gòn, 28.8.1997, trang 21-22). Đó là một cách, đi theo đường ngoại giao. Nhưng cách đó không phải bao giờ cũng làm được. Cho nên tùy theo điều kiện cho phép, đô la còn được chuyển qua đường Trường Sơn hoặc đường biển, mang trực tiếp đến căn cứ của Trung ương Cục. Phương thức chuyển trực tiếp đô la mặt này gọi tắt là phương thức AM. Phương thức AM đã góp phần rất đắc dụng trong giai đoạn đầu đánh Mỹ, khi nhu cầu về tiền chưa nhiều. Tuy nhiên nhược điểm của nó là chậm, không chuyển được nhiều và rất nguy hiểm. Đồng đô la đã phải vượt qua bao nhiêu gian truân bất trắc, luôn luôn phải đối chọi với bom đạn và đã tổn thất không ít xương máu. Tiền đem đến cho kháng chiến không sợ tham nhũng, chỉ sợ địch họa thôi.
Đến năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, chiến trường mở rộng, nhu cầu ngày càng cao, phương thức AM không còn phù hợp nữa. Một phương thức mới, gọi tắt là FM, được thay thế. FM là cách vận dụng các nghiệp vụ mua bán và thanh toán quốc tế qua hệ thống ngân hàng trong và ngoài nước để chuyển đồng đô la thành tiền Sài Gòn. Theo AM, đồng đô la được mang trực tiếp vào miền Nam, thực hiện việc chuyển đổi tại biên giới hoặc trong nội thành thì theo FM, việc trao đổi và nhận tiền Sài Gòn mặt ngay giữa Sài Gòn, còn việc chuyển đô la thì thực hiện ở nước ngoài thông qua hệ thống ngân hàng. Đây là sáng kiến vô cùng độc đáo, được áp dụng thành công một cách hoàn hảo.
Đến thời điểm này, theo ông Mười Phi: "Sau một thời gian hoạt động hăng say, năng nổ (chủ yếu dựa vào nhiệt tình cách mạng và kinh nghiệm trong thực tiễn), đã đến lúc Ban Tài chính đặc biệt phải đặt vấn đề tăng cường tổ chức kế toán để bảo đảm cho hoạt động của Ban về nguyên tắc". Ban này cần "một cốt cán tài chính ngân hàng được đào tạo chính quy". Ông Phạm Hùng đồng ý và cử ông Ba Châu "là người vừa học xong tài chính ngân hàng ở Liên Xô trở về Hà Nội" đưa thẳng về Ban Tài chính đặc biệt Trung ương Cục (các đoạn nghiêng được trích từ sách: Đồng đô la trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - NXB Công an nhân dân 2003, trang 40). Và ông Ba Châu đã từ Hà Nội vượt Trường Sơn đi thẳng đến Campuchia. (Còn tiếp)
Con người cần phải sống có đạo lý & đạo lý đòi hỏi con người sự công bằng. Nghèo cho sạch, rách cho thơm.

User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Post by Khải-SG » Thu 17 May, 2012 3:04 am

Kỳ 3: Từ sĩ quan liên lạc đình chiến đến Việt kiều từ Pháp về Campuchia.

Lữ Minh Châu là cái tên sau này, còn hồi đó tên ông là Lữ Triều Phú, sinh năm 1929. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông đang học năm thứ ba trung học ở Sài Gòn. Ông vào bộ đội chống Pháp năm 1945, một thời gian sau được điều về làm Văn phòng liên tỉnh ủy Hậu Giang, vì "các anh ấy thấy mình có học". Rồi làm Văn phòng Xứ ủy Nam bộ, Văn phòng Trung ương Cục cho đến năm 1954.

Trong 9 năm đó, ông có dịp giúp việc cho ông Lê Đức Thọ, ông Phạm Hùng. Ông lấy vợ tháng 2/1954, vợ ông hoạt động trong Tỉnh đoàn Thanh niên cứu quốc. Sau Hiệp định Genève, ông và vợ được bố trí ở lại, được giao công tác ở hai nơi và "hẹn hò nhau 1 năm sau gặp lại". Nhưng sau đó có thay đổi. Ông Phạm Hùng "cần một người biết tiếng Pháp để làm việc cho Ủy ban liên hiệp đình chiến Nam Bộ". Thế là ông khăn gói lên Sài Gòn làm sĩ quan liên lạc cho phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa bên cạnh Ủy ban quốc tế, nhưng do Pháp kéo dài thời gian nên phái đoàn không vào Sài Gòn được, ông phải tập kết ra Bắc trong chuyến tàu cuối cùng. Ông về Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị vào Nam trở lại, nhưng mấy tháng sau phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa bị hạn chế từ 25 người còn 7-8 người nên ông phải ở lại miền Bắc. Tại Hà Nội, Chính phủ lập Ban Thống nhất để chuẩn bị đi Hiệp thương, ông Phạm Hùng làm trưởng ban, ông là chuyên viên trong ban đó. Nhưng không hiệp thương được, bộ phận này giải thể.

Năm 1959, ông Lê Đức Thọ xin ông về làm thư ký. Ông nói ông còn dốt lắm, phải học mới làm được. Tổ chức cho ông đi học đại học kinh tế quốc dân, đó là khóa đầu tiên, mấy tháng sau được chọn đi Liên Xô, học ngành tài chính ngân hàng, đến tháng 12/1964 thì tốt nghiệp.

Về nước, ông Phan Triêm, Phó ban Tổ chức trung ương gọi lên hỏi: "Cậu muốn vào Nam hay học tiếp ?". Trả lời: "Muốn vào Nam". Ông Phan Triêm đưa ông đến gặp ông Lê Đức Thọ. Ông Thọ bảo: "Về Nam cậu có băn khoăn gì không ?". "Thưa không". Ông Thọ bảo tiếp: "Về Nam dự kiến bố trí trong nội thành, có thể làm việc cho địch, cậu nghĩ như thế nào?". Trả lời: "Làm gì cũng được". Hỏi: "Cậu nhớ lại khi làm ở Liên hiệp đình chiến có để lại hình ảnh hay dấu vân tay gì không?". Trả lời: "Không". Ông Thọ: "Như thế thì được".
Xong với ông Lê Đức Thọ, ông sang gặp ông Phạm Hùng. Ông Phạm Hùng giao việc rất kỹ và dặn trong thời gian chuẩn bị vẫn làm việc ở Ngân hàng trung ương để nắm cho thật kỹ các nghiệp vụ ngoại thương, ngoại hối và thanh toán quốc tế, đồng thời trau dồi tiếng Pháp, tiếng Anh và học tiếng Khmer, học nghiệp vụ tình báo. Tôi thắc mắc: "Ông học tài chính ngân hàng ở Liên Xô và nắm nghiệp vụ ngân hàng tại Hà Nội nhưng ông sẽ phải làm việc theo cách của tư bản, như vậy có khó khăn gì không ?". Ông Ba Châu: "Mình còn nghiên cứu kinh nghiệm thực tế nữa, nhưng những nguyên tắc nghiệp vụ ngoại thương, ngoại hối và thanh toán quốc tế là giống nhau".
Ông Ba Châu kể, kế hoạch chuẩn bị lúc đó có hai phương án, hoặc là ông sẽ đi Quảng Châu, từ Quảng Châu sang Hồng Kông, từ Hồng Kông về Phnom Penh, hoặc là sang Pháp và từ Pháp về Phnom Penh. Nhưng cả hai phương án đều không thực hiện được vì đường liên lạc bị bể. Phải chờ đợi. Chờ lâu quá, không biết đến bao giờ mới đi được. Ông gặp ông Phạm Hùng, xin đi đường Trường Sơn. Biết ông bị đau dạ dày, phải cắt 2/3 cái bao tử vào năm 1956, ông Phạm Hùng nói: "Sức khỏe của cậu làm sao đi đường Trường Sơn cho nổi". Ông nói ông đi được. Ông Phạm Hùng bảo phải qua y tế xác nhận. Ông sang y tế kiểm tra, năn nỉ người ta xác nhận cho đi. Và ông đã vượt Trường Sơn, đi chung với đoàn các bác sĩ vào Nam, sau hơn hai tháng về đến khu 5, chỗ tướng Chu Huy Mân. Ở lại đây 1 tuần dưỡng sức, ông Ba Châu qua Phnom Penh, "lặn luôn trong Việt kiều".
Muốn "lặn luôn trong Việt kiều" một cách an toàn thì trước hết phải có giấy tờ hợp pháp, mà phải là giấy thật chứ giấy giả trước sau gì cũng bị lộ. Ông Lê Đức Thọ là người nhìn xa trông rộng, trước khi đi ông còn dặn phải sắp xếp chuyện vợ con hợp lý cho ông Ba Châu. Vợ ông lúc này đang hoạt động hợp pháp thuộc bên An ninh. Tổ chức đã liên lạc với vợ ông, bố trí đưa sang Phnom Penh và làm "giấy tờ thật" cho bà giống hệt như cho ông.
Nhưng làm sao làm được giấy tờ thật? Việc đó do một cơ sở Việt kiều ở Campuchia thực hiện. Và ông đã có một giấy căn cước (ở Campuchia lúc đó gọi là "Giấy lăn tay") mang tên một người tên Nguyễn Văn Thảo. Hồ sơ về người này là thật, gốc Việt, sinh ở Pháp, đến sinh sống ở Campuchia, nhưng đã không còn ở Campuchia nữa. Chỉ có ảnh và dấu vân tay là của ông Ba Châu. Giấy tờ của vợ ông cũng được làm tương tự.
Năm 1966, sau hơn 10 năm xa cách, ông Ba Châu được đoàn tụ với vợ tại Phnom Penh, bắt đầu làm những việc cam go nhất cho cách mạng. Để cho hợp pháp, ông phải tổ chức cưới lại chính vợ của mình, như vậy mới có giấy hôn thú.
Lúc này tại Phnom Penh, đã có một công ty xuất nhập cảng mang tên công ty Tân Á, là chỗ dựa của ông Mười Phi, do một Việt kiều thật là ông Năm Tấn, cũng người của Ban Tài chính đặc biệt Trung ương Cục làm giám đốc. Khi ông Ba Châu sang, tổ chức lập thêm một công ty xuất nhập cảng khác mang tên công ty Nam Dân, do ông Năm Dần, cũng là Việt kiều đứng tên, ông Ba Châu làm quản lý công ty này.
Lữ Triều Phú đã trở thành Nguyễn Văn Thảo, doanh nhân Việt kiều như vậy đó. (còn tiếp)
Con người cần phải sống có đạo lý & đạo lý đòi hỏi con người sự công bằng. Nghèo cho sạch, rách cho thơm.

Post Reply

Return to “Khải's Collection”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests