5d phiếu tiep tế tỉnh thủ bien hiem

Tiền phát hành bởi chính phủ ông Hồ Chí Minh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Post Reply
Ngọc Xuân Thắng
Posts: 25
Joined: Fri 23 Oct, 2015 9:57 am
Location: thanh hóa

5d phiếu tiep tế tỉnh thủ bien hiem

Post by Ngọc Xuân Thắng » Fri 23 Oct, 2015 12:33 pm

image.jpeg
image.jpeg
image.jpeg
image.jpeg
Last edited by Ngọc Xuân Thắng on Sun 06 Dec, 2015 6:07 pm, edited 1 time in total.

Ngọc Xuân Thắng
Posts: 25
Joined: Fri 23 Oct, 2015 9:57 am
Location: thanh hóa

Re: phiếu lạc quyên

Post by Ngọc Xuân Thắng » Fri 23 Oct, 2015 12:45 pm

xxx
Attachments
phieu lac quyen.jpg

Ngọc Xuân Thắng
Posts: 25
Joined: Fri 23 Oct, 2015 9:57 am
Location: thanh hóa

Re: hồi chánh là con đường sống

Post by Ngọc Xuân Thắng » Fri 23 Oct, 2015 12:48 pm

ho chanh.jpg
ho chanh.jpg (13.04 KiB) Viewed 3911 times
=D> =D> =D> =D> =D>

Ngọc Xuân Thắng
Posts: 25
Joined: Fri 23 Oct, 2015 9:57 am
Location: thanh hóa

Re: phiếu kiểm soát

Post by Ngọc Xuân Thắng » Fri 23 Oct, 2015 1:06 pm

phieu dap nen 2.jpg
phieu dap nen 2.jpg (14.41 KiB) Viewed 3909 times

Ngọc Xuân Thắng
Posts: 25
Joined: Fri 23 Oct, 2015 9:57 am
Location: thanh hóa

Re: phiếu lạc quyên

Post by Ngọc Xuân Thắng » Fri 23 Oct, 2015 1:08 pm

kkkkk.jpg
kkkkk.jpg (18.46 KiB) Viewed 3908 times

Ngọc Xuân Thắng
Posts: 25
Joined: Fri 23 Oct, 2015 9:57 am
Location: thanh hóa

Re: phiếu lạc quyên

Post by Ngọc Xuân Thắng » Fri 23 Oct, 2015 1:10 pm

kkkk222.jpg
kkkk222.jpg (13.13 KiB) Viewed 3907 times

Ngọc Xuân Thắng
Posts: 25
Joined: Fri 23 Oct, 2015 9:57 am
Location: thanh hóa

Re: phiếu lạc quyên

Post by Ngọc Xuân Thắng » Mon 26 Oct, 2015 6:33 am

Quốc hiệu : VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA.
Thủ đô : Hà Nội.
Danh xưng Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tồn tại từ năm 1945 đến năm 1976 phát hành tiền nhiều lần nhưng cơ bản chia làm 2 loại : Trước khi có Ngân hàng và từ khi có Ngân hàng.

I. BẠC TÀI CHÁNH CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA : (1945 – 1951) :

Từ năm 1858 đến 1945, nước Ðại Nam bị thực dân Pháp đô hộ. Nhân dân cả nước đoàn kết giải thoát ách thực dân, giành lại chính quyền. Ngày 23-8-1945, tại Hà Nội, chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính Phủ Lâm Thời và tổ chức bầu cử Quốc hội, khai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời rất lớn, nhưng chính phủ cách mạng không chiếm được Ngân hàng Đông Dương mà chỉ tiếp quản Ngân khố Trung ương lúc đó còn vỏn vẹn có 1.250.000 đồng, trong đó có 580.000 đồng là tiền hào lẻ rách nát chờ hủy. Để khắc phục khó khăn, ngày 4/9/1945 Chính phủ ra sắc lệnh "Tổ chức Quỹ Độc lập" vận động nhân dân đóng góp trong « Tuần lễ vàng » từ ngày 17 đến ngày 24/9/1945 đã thu được 20 triệu đồng. Hội đồng Chính phủ dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều phiên họp để bàn về vấn đề tài chính. Buổi đầu kháng chiến, nêu cao ý chí tự lực cánh sinh, nêu khẩu hiệu “vừa kháng chiến vừa kiến quốc” nhưng trong thời gian đó, các thành phố có nền thủ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã bị ngưng trệ. Sự đóng góp của nhân dân trong lúc này thật vô cùng lớn lao. Tuy nhiên, các nỗ lực đó không thể thoả mãn được các nhu cầu hàng ngày càng to lớn của cuộc kháng chiến. Ðể giải quyết tình hình thiếu hụt ngân sách, Chính phủ ngoài biện pháp phát động các phong trào ủng hộ, thu thuế và vay tiền nhân dân, sử dụng biện pháp “phát hành giấy bạc” để đảm bảo nhiều khoản chi tiêu của cuộc kháng chiến và nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường, đẩy lui giấy bạc Ðông Dương ra khỏi vùng tự do và thực hiện loại tiền tệ của một quốc gia độc lập, tự chủ. Tất cả các loại "Giấy bạc Việt Nam" đều có chân dung Hồ Chủ tịch nên dân chúng gọi nôm na là giấy bạc Cụ Hồ và vì do Bộ tài chính phát hành, luôn có chữ ký hoặc đại diện Bộ trưởng Bộ Tài chính nên cũng còn gọi là giấy bạc Tài chính (miền Nam gọi là tài chánh).
Ngày 31/1/1946, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh số 18.SL cho phép Bộ Tài chính phát hành "Giấy bạc Việt Nam". Mặt trước in dòng chữ "Giấy bạc Việt Nam"; Quốc hiệu Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; chân dung Hồ Chủ tịch và những hình ảnh chống giặc dốt, chống giặc đói, chống ngoại xâm, liên minh công - nông - binh.... Trên tờ giấy bạc, ngoài chữ Việt và chữ Hán, thỉnh thoảng còn có thêm chữ Miên - Lào với chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính là Lê Văn Hiến hoặc Phạm Văn Đồng và chữ ký của Giám đốc Ngân khố Trung ương cùng hàng chữ "Theo sắc lệnh của Chính phủ Việt Nam, kẻ nào làm giả hoặc có hành đồng phá hoại tờ giấy bạc của Chính phủ, sẽ bị trừng trị theo quân pháp". Nơi chọn phát hành đầu tiên là các tỉnh nam Trung Bộ vì ở đây không có quân đội nước ngoài chiếm đóng, chính quyền cách mạng hoàn toàn làm chủ và phong trào cách mạng của quần chúng rất mạnh.
Ðể đáp ứng với tình thế, Quốc hội đã cử một Chính phủ Kháng Chiến Liên Hiệp vào ngày 2/3/1946 và tuyên bố Việt Nam độc lập theo chế độ Dân Chủ Cộng Hoà. Vì tình hình chiến sự, lãnh thổ Việt Nam có ba miền : Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ. Mỗi miền có nhiều khu, Chính phủ tổ chức các Uỷ Ban Kháng chiến Hành chánh ở mọi cấp làng, xã, quận, tỉnh và khu. Tiền Tài chính này dần lan ra Hà Nội nên ngày 13/8/1946 có sắc lệnh số 154.SL cho phép phát hành "Giấy bạc Việt Nam" tại bắc Trung Bộ trên vĩ tuyến 16, lưu hành song song với tiền giấy Đông Dương Ngân hàng cũ với tỷ giá 1:1.
Tiền giấy gồm các loại từ 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng và 100 đồng. Riêng tiền 5 đồng, 20 đồng và 100 đồng, có nhiều loại khác nhau do in ở các vùng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Các loại tiền này in trên giấy bổi bằng vỏ cây xay do Sở ấn loát Tài chính Trung Bộ cùng Uỷ ban Tổng phát hành Giấy bạc Việt Nam in ấn. Giấy bạc Việt Nam tuy kỹ thuật in thô sơ, chất liệu xấu nhưng vẫn được nhân dân hoan nghênh đón tiếp, đem tiền Đông Dương Ngân hàng đến đổi với tỉ giá 1:1; nhiều tờ giấy đã rách nát nhưng dân chúng vẫn tiêu dùng. Tiền kim lọai, phát hành các mệnh giá 20xu, 5hào, 1đồng và 2đồng : xưởng dập tiền đồng được thành lập tại Văn Thánh (Huế) còn ở Hà Nội thì cơ sở dập tiền nhôm dưới nhà bát giác của Bảo tàng Lịch sử.

Trước đó, ngày 23/9/1945, toàn dân Nam Bộ kháng chiến phản đối quân Pháp trở lại miền Nam. Vì chưa có tiền riêng để sử dụng, Uỷ ban Hành chánh Cách mạng các tỉnh ở miền Nam như : Biên Hoà, Long Xuyên, Châu Đốc, Tiền Giang, Bến Tre, Chợ Lớn, Rạch Giá, Hà Tiên... đã dùng tiền giấy của Đông Dương Ngân hàng đóng dấu đỏ của Ủy ban hành chánh kháng chiến quản lý để sử dụng. Tuy nhiên, người Pháp vẫn xem vấn đề tiền tệ thuộc chủ quyền của mình nên ngày 17/11/1945, Cao uỷ Pháp là Đô đốc Bá tước D'Ărgenlieux tuyên bố huỷ bỏ giấy 500 đồng vàng cho rằng được in thời chính phủ thân Nhật nên không còn giá trị sử dụng. Sự giao thiệp về vấn đề tiền tệ giữa hai chính phủ Pháp - Việt trở nên gay gắt.
Từ đó, chính phủ Việt Nam thì phản đối việc Pháp cho phát hành thêm tiền mới, còn chính phủ Pháp thì tuyên bố không chịu trách nhiệm gì về tiền do Việt Nam in ra. Khắp Ðông Dương tiền tệ Pháp - Việt chưa được thoả thuận nhưng tại Hội nghị ở Đà Lạt và Hội nghị Fontainebleau (từ ngày 6/7 đến ngày 13/9/1946) hai chính phủ đã thỏa thuận nguyên tắc là giá trị đồng bạc Đông Dương so với đồng franc sẽ do hai bên ký kết. Đến đầu tháng 12/1946, trong một cuộc họp riêng ở Hà Nội, trao đổi ý kiến giữa hai chính phủ đều cho rằng vấn đề tiền tệ có thể dung hoà được nếu các vấn đề khác giải quyết xong...
Cuối năm 1946, thực dân Pháp lăm le trở lại Việt Nam. Ngày 19/12/1946, Hồ Chủ tịch kêu gọi Toàn quốc kháng chiến... nên chiến tranh chống Pháp xâm lược trở nên ác liệt, chia cắt lãnh thổ thành nhiều khu khiến giao thông khó khăn, nhiều lúc bị tắt nghẽn. Ðặc biệt những tháng đầu kháng chiến, quân Pháp chiếm đóng hoàn toàn giải đất eo hẹp thuộc ba tỉnh Bình-Trị-Thiên, làm cho quan hệ kinh tế giữa hai miền Bắc-Nam bị rối loạn. Vả lại, do điều kiện quân sự, chính trị, kinh tế phát triển không đều nhau, khách quan đã hình thành 3 khu vực lớn. Mỗi khu vực hầu như trở thành một khu kinh tế độc lập. Giá cả của các khu vực có sự chênh lệch và không ổn định, do đó, để đối phó tình hình trên, Chính phủ Kháng chiến Trung Ương cho thành lập tạm ba khu vực tiền tệ riêng biệt :

Khu vực 1 : Các liên khu 3,4 và Việt Bắc.
Khu vực 2 : Trung bộ và miền Nam Trung bộ (Liên khu 5).
Khu vực 3 : Nam bộ.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến, tiền tài chính đã lưu hành rộng rãi khắp các miền đất nước nên ngày 15/5/1947 có sắc lệnh số 48.SL cho phép phát hành trên toàn cõi Việt Nam những giấy bạc 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng và 500 đồng. Tuy nhiên, chiến sự khắp nơi làm việc liên lạc giữa các địa phương và Trung ương gặp nhiều trở ngại, có nơi bị gián đoạn tạm thời. Trong khoảng từ năm 1947 đến 1954, mỗi vùng Kháng chiến phát hành mỗi loại tiền tệ riêng để tiện việc chi dùng có giá trị nhất định trong nội bộ từng vùng.

- Ở Trung bộ (Liên khu 5) theo sắc lệnh số 231, ngày 18/7/1947 cho phép phát hành các loại tín phiếu ghi quốc hiệu và hình ảnh Hồ Chủ tịch nhưng có hai chữ ký : Phạm Văn Đồng ký "Đại diện Chính phủ Trung ương" và một chữ ký của "Đại diện Uỷ ban Hành chánh Trung bộ" gồm các loại 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 500 đồng và 1.000 đồng với hình thức tương tự Giấy bạc Việt Nam nhưng được thay bằng chữ "Tín phiếu".

- Ở Nam Bộ, ngày 1/11/1947, có sắc lệnh số 102.SL cho phép phát hành tín phiếu các loại : "Tín phiếu, Phiếu tiếp tế, Phiếu đổi chác..." của riêng từng tỉnh và chỉ lưu hành trong tỉnh đó như ở Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Hà Tiên... với 2 chữ ký là của Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chánh tỉnh và Trưởng ty Ngân khố. In hình Hồ Chủ tịch và các cảnh sinh hoạt, tuy kỹ thuật in thô sơ nhưng đầy ý nghĩa vì thường có hàng chữ cổ động (có thể in cùng lần với tín phiếu hoặc cũng có thể in đè lên thêm khi phát hành) như "Toàn dân đoàn kết chống ngoại xâm - Tích cực chuẩn bị phản công - Thi đua lập chiến công - Thi đua ái quốc - Một nước Việt Nam độc lập, một chính phủ Hồ Chí Minh...".

Đến ngày 21/3/1948, chính phủ ra sắc lệnh số 147.SL cho phép phát hành tại Nam Bộ và lưu hành trên toàn quốc Giấy bạc Việt Nam. Ngày 14/4/1948 đình chỉ lưu hành tiền đồng của các triều đại phong kiến; ngày 30/4/1948, trên đà thắng lợi của cuộc kháng chiến đã bước vào giai đoạn cầm cự, chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh số 180/SL tuyên bố tất cả giấy bạc của Ðông Dương Ngân hàng phát hành đều không có giá trị trong vùng kháng chiến nữa trừ loại giấy bạc 1 đồng và các hào lẻ. Ðến ngày 26/10/1950, bộ Tài chánh mới ra nghị định loại trừ hết tất cả các loại tiền của Ðông dương Ngân hàng. (Trích dẫn: Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam - 30 năm Tiền Tệ, Tín dụng, Ngân hàng ở Việt Nam(1951-1981) Tập thể tác giả - chủ biên : Trần Dương - Viện Nghiên cứu Kinh Tế, Tiền Tệ, Tín Dụng, Ngân Hàng xuất bản 1981)
Cuối năm 1948, chiến sự căng thẳng lại do Hoa kiều ở Chợ Lớn in giả Giấy bạc Việt Nam của Trung ương nên Uỷ ban kháng chiến Hành chánh Nam Bộ quyết định ấn loát tại chỗ và phát hành loại giấy bạc Nam Bộ. Loại giấy này chất liệu khá tốt, cũng ghi quốc hiệu; chân dung Hồ Chủ tịch; dòng chữ "Giấy bạc Việt Nam" và dòng chữ "Theo sắc lệnh của Chính phủ Việt Nam...". Riêng về chữ ký : " Đại diện Bộ trưởng Bộ Tài chính" thì do "Chủ tịch UBKCHCNB" tức ông Phạm Văn Bạch ký, còn "Đại diện Bộ trưởng Bộ Tài chính" thì do "Giám đốc Ngân khố Nam Bộ" tức ông Trần Học Hải ký. Trên tiền giấy cũng có cả chữ Hán, Miên, Lào bao gồm các loại 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng. Giấy 50 đồng có 3 loại; 100 đồng có đến 4 loại. Như vậy, tuy chiến tranh nhưng tiền tệ được in ra cũng rất phong phú... Có một số loại cho biết chỉ lưu hành hạn hẹp trong một số tỉnh nên có thêm hàng chữ "Chỉ lưu hành trong tỉnh Long - Châu - Sa" (Long Xuyên - Châu Đốc - Sa Đéc) hoặc "Chỉ lưu hành trong tỉnh Mỹ Tho..."

1. Khu vực 1 : Các Liên khu 3,4 và Việt Bắc - Giấy Bạc Trung Ương hay còn gọi là Tiền Tài Chính.

Ngày 2/9/1945, Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời. Ngày 31/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính Phủ ký Nghị Ðịnh phát hành GIẤY BẠC VIỆT NAM. Giấy bạc được gọi chung là Bạc tài chính. Nhân dân gọi là bạc Cụ Hồ để phân biệt với bạc thuộc địa ở các vùng chưa Giải phóng.
Ngày 30/11/1946, giấy bạc Việt Nam Ðộc lập có chủ quyền đầu tiên ra đời. Lúc đầu các tờ giấy bạc đa số có lối trình bày chung như sau :
Mặt trước :
- Quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.
- Chân dung Chủ Tịch Hồ Chí Minh.
- Giá trị tờ bạc - Lời răn đe của luật pháp.
- Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc Giám đốc NK TW ký.
Mặt sau :
- Hình ảnh về Công, Nông, Binh và dòng Giấy bạc Việt Nam.
- Giá trị tờ bạc bằng 3 thứ tiếng Việt Miên Lào, số Ảrập
- Khu vực lưu hành : Ở các vùng Giải phóng trên cả nước.
Ðặc thù : Hình ảnh về Giấy bạc Việt Nam lúc này còn nêu lên được các mục tiêu chính của cuộc Cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, về hình thức của loại bạc tài chánh cũng còn có một số lối trình bày không khác biệt lắm so với lối trình bày nêu trên.
Thu hồi : Ngày 06/05/1951, theo Sắc lệnh số 15-SL, Ngân hàng Quốc gia được thành lập để in và phát hành tiền Ngân hàng. Chính phủ Trung Ương cho thu đổi với dân chúng theo tỷ lệ 10 đồng Tiền Tài Chính lấy 1 đồng Ngân hàng. Thời gian thu đổi từ 01/06/1951 đến 01/12/1952.

Từ đầu tháng 3-1946 Bộ Tài Chính đã ra lệnh cho nhà in sơ tán một bộ phận in giấy bạc, địa điểm là xã Cổ Nghĩa, vùng Chi Nê, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. Ðầu tháng 3-1947, nhà in được di chuyển lên Việt Bắc, bến Tràng Ðà thuộc thị xã Tuyên Quang và sau đó di chuyển lên vùng Bản Thi. Bản Thi là địa điểm có nhiều thuận lợi vì là cơ sở khai thác quặng kẽm của thực dân Pháp có máy thuỷ điện. Nhà máy in lấy tên chánh thức là Cơ quan Ấn loát thuộc Bộ Tài chính.
Về giấy in, nhà máy tổ chức một phân xưởng làm giấy mà nguồn quan trọng vẫn là giấy bằng bột giang, bột nứa của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ (nhà máy giấy Ðáp Cầu cũ) đặt tại vùng núi đá Chợ Chu (Thái Nguyên). Nhà máy giấy xuất giấy in suốt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Từ đó, nhà in Ngân hàng của Bộ Tài Chính đi vào nề nếp sản xuất cho Trung Ương và Khu vực 1 là các vùng tự do của Bắc bộ và Bắc Trung bộ gồm các tỉnh trung du và miền núi Việt Bắc, đồng bằng Bắc bộ, các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh cho đến hết Bình Trị Thiên, một điạ bàn tương đối liên hoàn gồm trên 10 triệu dân được lưu hành những tờ giấy bạc đầu tiên.
Ngày 7-10-1947, quân Pháp đánh Việt Bắc có tràn vào nhà in ở Bản Thi. Sau trận này, nhà máy in lúc đó đã có máy in offset, được dời đến cơ sở kín đáo hơn, trở thành nhà in Ngân hàng và xây dựng thêm một cơ sở mới là nhà máy in Khánh Thi thuộc huyện Chiêm Hoá. Cơ sở này trang bị máy in Ty-pô, sắp chữ Li-nô-típ in giấy 1 đồng, 5 đồng bằng kẽm Py-tô.
Những tờ giấy bạc đầu tiên của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà được in tại Bản Thi (khu giải phóng Việt Bắc, còn gọi là An Toàn Khu) gồm 2 lần :
Từ 1946 đến 1949 phát hành lần thứ nhất
Mệnh giá tên gọi
1 đồng Nông Dân
5 đồng Công Nhân
20 đồng (lọai a) Sĩ, Nông, Công, Thương
20 đồng (lọai b) Sĩ, Nông, Công, Thương
50 đồng Sĩ, Nông, Công, Thương
100 đồng Con trâu xanh
Chữ ký : Bộ trưởng tài chính : Phạm Văn Ðồng.
Giám đốc Ngân khố Trung Ương : Nguyễn Văn Khoát

Từ 1949 đến 1951 phát hành lần thứ hai
mệnh giá tên gọi
2 hào Nông Binh
5 hào Nông dân
5 đồng Mùa gặt
10 đồng Bảo vệ quê hương
20 đồng (lọai a) Công Thương
20 đồng (lọai b) Sĩ, Nông, Công, Thương
50 đồng Công, Nông
100 đồng Chuẩn bị tổng phản công
100 đồng Một trăm đỏ
100 đồng Con trâu xanh
200 đồng Bảo vệ mùa màng
500 đồng Sông lô chiến thắng.
Chữ ký : Bộ trưởng Tài chính: Lê Văn Hiến
Giám đốc Ngân khố Trung Ương: Nguyễn Văn Khoát







Các loại giấy bạc được sử dụng tại các vùng giải phóng và được đưa vào các vùng quân Pháp chiếm đóng. Thấy vậy, Pháp cho in nhiều giấy bạc giả (loại 100 đỏ) nhằm lũng đoạn kinh tế chánh phủ kháng chiến. Bắt được loại giấy bạc này, Ủy ban hành chánh Kháng chiến các địa phương cho đóng lên tờ giấy bạc con dấu nhỏ KIỂM SOÁT (có khi có cả chữ ký của chủ tịch hoặc Trưởng ty Ngân khố trên mảnh giấy dán đè lên tờ tiền).

Các loại tiền xu : 20 xu, 5 hào, 1 đồng bằng nhôm và 2 đồng bằng đồng, được phát hành trong 2 năm 1945 và 1946.





2. Khu vực 2 : Liên khu V (Trung bộ và Miền nam Trung bộ) - Tín Phiếu Miền Trung.

Tín phiếu là một loại hình tiền tệ đặc biệt của chính quyền Cách mạng khi chưa có điều kiện in và phát hành giấy bạc. Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám, Tổng bộ Việt Minh đã cho in Tín phiếu bằng ty-pô ở cơ quan in bí mật Trần Phú tại xã Tráng Việt, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên. Tín phiếu lúc đó in dòng chữ đỏ “Tổ quốc ghi công” mang tính chất một phiếu vay tiền hoặc một phiếu chứng nhận đã ủng hộ tiền cho Cách mạng. Ðến ngày nay, gần như không thấy một loại nào còn được giữ lại (Lịch sử ngành in Việt Nam, Cục Xuất bản, Bộ Văn hoá Thông Tin xuất bản - Tập 2. Sơ thảo, Hà Nội 1992, trang 143)
Liên Khu 5, chủ yếu là 4 tỉnh tự do (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên) gồm 3 triệu dân là nơi trước đây đã được chọn làm địa bàn phát hành những giấy bạc đầu tiên do Trung Ương in ở Bản Thi, Việt Bắc bằng cách kêu gọi dân chúng đổi tiền Ðông Dương Ngân hàng phát hành trước đây ra tiền Tài chính. Dân chúng rất hưởng ứng vì giá trị đồng tiền ngang nhau : 1 đồng Ðông Dương đổi được 1 đồng Tài chính; có khi được 1 đồng hai hào. Ðến khi cuộc chiến khốc liệt, 3 tỉnh Bình-Trị-Thiên bị quân Pháp chiếm đóng và kiểm soát gắt gao, Miền Bắc khó liên lạc với Miền Trung và Miền Nam nên từ 1947, Chính Phủ cho phép chính quyền Miền Nam Trung bộ phát hành Tín phiếu địa điểm đặt nhà in là thôn Xà Nai, xã Sơn Nham, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.
Lúc này chưa sản xuất giấy nội hoá có bóng mờ ngôi sao trong vòng tròn (làm bằng cây giang, nứa, rơm…) nên phải dùng giấy học trò. Máy in là hai máy Minerve của nhà in Mission ở Gò Bồi, Quy Nhơn. Chữ số để in trên giấy bạc lúc đầu mua được một ít, sau phải dùng hợp kim chì, thiếc, ăng-ti-moan pha chế rồi đúc thêm nhiều loại nên khắc phục được việc thiếu chữ số. Về mực in các màu thì mua các loại bột màu ở thành phố, thị xã đem về dùng dầu rái pha chế. Do làm thủ công nên màu in mỗi lần pha chế rất khó đồng màu. Vẽ mẫu Tín Phiếu do hoạ sĩ Hoàng Kiệt. Bảng ảnh in bằng đồng do anh Văn Hồ là thợ khắc có tiếng ở Ðà Nẵng về làm. Việc đánh số ban đầu rất chậm và không đồng bộ vì thiếu chữ, và số. Dần dần đúc thêm số và nhờ các em thiếu sinh quân về đóng số giúp. Dù không đẹp và giống nhau nhưng khắc phục kịp thời cho nhu cầu. Cuối cùng là chữ ký của lãnh đạo. Lúc đầu Liên Khu Uỷ quan niệm Tín phiếu là một loại Giấy vay nợ của chính quyền đối với nhân dân nên đích thân ông Nguuyễn Duy Trinh, chủ tịch UBKCHC Liên khu 5 phải lên An Toàn Khu (ATK) để ký trực tiếp vào mỗi tờ Tín phiếu. Sau hơn 1 tháng vì thấy nhiều trở ngại nên khi chế bản để in, chữ ký của Chủ tịch UBHCKH Liên khu 5 được khắc luôn để in cùng một lúc.

Tại đây, giấy bạc Trung Ương (Tiền Tài chính) được đem vào sử dụng từ trước và Tín phiếu cùng lưu hành song song. Giấy bạc Trung Ương được in thêm nhiều ở Việt Bắc và được đem vào Liên khu V cùng với số lượng Tín phiếu nơi đây càng lúc càng in quá nhiều (vì có hai bộ phận in, một ở Quảng Ngãi, một ở Bình Ðịnh trang bị đến 8 máy in nên sản lượng tăng nhanh và nhiều) khiến giá trị đồng tiền bị sụt thê thảm, từ một đồng Ðông Dương ngang với một đồng Tín phiếu đi đến 40 đồng hoặc 50,55 đồng Tín phiếu mới đổi được 1 đồng Ðông Dương.
Ðến năm 1951, phải 400 đồng Tín phiếu mới đổi được 1 đồng Ðông Dương. Cơ quan in Tín phiếu hoạt động đến năm 1952 thì được giải thể vì ở Liên khu 5 lúc đó đã có điều kiện phát hành Giấy bạc Ngân hàng Nhà nước đưa từ Trung Ương vào. Tín phiếu miền Trung vẫn còn được sử dụng đến khi tập kết năm 1955. (Lịch sử ngành in Việt Nam, Cục Xuất bản, Bô Văn Hoá Thông Tin xuất bản, Hà Nội 1992, trang 144-147)
Tín phiếu Miền Trung có nhiều loại: 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 500 đồng và 1.000 đồng với chữ ký của : Ðại diện Chánh phủ Trung Ương : Phạm Văn Ðồng và đại diện Uỷ ban Hành Chánh Trung bộ : Nguyễn Duy Trinh
Hình vẽ của mỗi loại không giống nhau vì in đi in lại nhiều lần và nhiều nơi. Các loại giấy đa số là giấy nội hoá, làm bằng cây giang, rơm, nên rất bở, nhưng là giấy có bóng mờ, một nét độc đáo của tiền trong thời kháng chiến. Ngoài ra cũng có một Tín phiếu in trên giấy trắng hoặc giấy học trò, không bóng mờ. Nhược điểm của loại giấy trắng này là bị địch sử dụng in bạc Tín phiếu giả, nhưng dễ nhận vì chúng lại làm đẹp hơn Tín phiếu thật.

Ngoài ra còn có tờ 10 đồng (giấy bạc Trung Ương) được in đè lên dòng chữ màu đỏ : Ðại diện Bộ trưởng Tài chánh ở Trung bộ.

Tháng 7/1954, Pháp thua trận ở Ðiện Biên Phủ, phải ký Hiệp định Gienève ngày 20/7/1954 tạm chia đôi đất nước, lấy sông Bến Hải làm ranh giới giữa hai quốc gia : Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (từ vĩ tuyến 17 trở ra) và Việt Nam Cộng Hoà (từ vĩ tuyến 17 trở vào). Tổng số Tín phiếu đã phát hành tại Liên khu 5 đến ngày đó là : 43.764.519.262 đồng (theo tài liệu của cuốn 30 năm, Tiền tệ, Tín dụng, Ngân hàng ở Việt Nam - 1951-1981 của Viện Nghiên cứu Kinh tế, Tiền tệ, Tín dụng, Ngân hàng xuất bản 1981).

- Thu hồi : Các loại tín phiếu được sử dụng đến khi có Hiệp định Genève 20/7/1954, mới thu đổi từ ngày 01/02/1955 đến 31/03/1955 theo hối suất tuỳ theo vùng : từ 150 đồng đến 600 đồng Tín phiếu lấy 1 đồng Ðông Dương mới.

3. Khu vực 3 : Nam bộ - Giấy bạc và đồng bạc Việt Nam (tiền Cụ Hồ).

Ở Nam Bộ vẫn lưu hành giấy bạc Việt Nam, phát hành mẫu mã khác với Giấy Bạc Trung Ương có chữ ký của Chủ tịch Ủy Ban hành chánh kháng chiến và đại diện Tổng Giám đốc Ngân khố Quốc gia.
Sau khi ở miền Bắc đã thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam vào năm 1951 thì ngày 21/9/1953, Nghị định số 39-NĐ/53 của Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam bộ cho thành lập Ngân hàng Nhân dân Nam Bộ do ông Trần Ngọc Hải làm Giám đốc; ông Trần Dương làm Phó Giám đốc, cán bộ của Trung ương là ông Nguyễn Lương Bằng (được cử vào Nam từ năm 1951). Đầu năm 1954, Nam Bộ chủ trương in giấy bạc 200 đồng và 500 đồng, đến giữa năm thì in xong loại 200 đồng chưa kịp phát hành thì Hiệp định Genève được ký kết, loại 500 đồng còn trên bản vẽ.

* Các loại Tín phiếu, phiếu đổi chác ở Nam Bộ :

Ở một số Tỉnh, khu vực Nam Bộ vẫn lưu hành giấy bạc Việt Nam nhưng ấn định khu vực lưu hành hạn chế. Ủy ban Hành chánh Kháng chiến một số Tỉnh như : Bạc Liêu; Bến Tre; Trà Vinh; Vĩnh Long; Sóc Trăng; Rạch Giá… hoặc một số khu vực Long Châu Sa; Long Châu Hậu; Long Châu Hà; Vĩnh Trà…cho phát hành tín phiếu; phiếu đổi chác; phiếu tiếp tế…để lưu hành trong địa bàn
Attachments
image.jpeg
image.jpeg

Ngọc Xuân Thắng
Posts: 25
Joined: Fri 23 Oct, 2015 9:57 am
Location: thanh hóa

Re: phiếu tiếp tế và tien trung bộ

Post by Ngọc Xuân Thắng » Mon 26 Oct, 2015 6:40 am

image.jpeg
Attachments
image.jpeg
image.jpeg
image.jpeg (28.07 KiB) Viewed 3878 times
image.jpeg
image.jpeg
image.jpeg
image.jpeg
image.jpeg
image.jpeg

Ngọc Xuân Thắng
Posts: 25
Joined: Fri 23 Oct, 2015 9:57 am
Location: thanh hóa

Re: tien mẫu

Post by Ngọc Xuân Thắng » Tue 10 Nov, 2015 6:40 am

image.jpeg
Attachments
image.jpeg
image.jpeg
image.jpeg

Ngọc Xuân Thắng
Posts: 25
Joined: Fri 23 Oct, 2015 9:57 am
Location: thanh hóa

Re: 5d 2dphiếu tiep tế tỉnh ben tre giả đợt 1 và đợt 2

Post by Ngọc Xuân Thắng » Sat 02 Jan, 2016 6:05 pm

image.jpeg
image.jpeg (29.7 KiB) Viewed 3773 times
image.jpeg
image.jpeg (42.07 KiB) Viewed 3773 times
image.jpeg
image.jpeg (28.74 KiB) Viewed 3773 times
image.jpeg
image.jpeg (36.64 KiB) Viewed 3773 times
image.jpeg
image.jpeg
image.jpeg
image.jpeg

Post Reply

Return to “Tiền "Cụ Hồ"”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest