Về tiền xé đôi.

Tiền giấy lưu hành tại Đông Dương: Pháp, Nhật, Trung Hoa
vĩnh-xương
Posts: 26
Joined: Tue 09 Sep, 2008 12:21 pm
Location: khánh hoà

Post by vĩnh-xương » Mon 31 May, 2010 1:49 am

Image


Lý do để đóng dấu trên giấy bạc Đông Dương như tác giả Nguyễn Quế nêu tại bài báo không chuẩn lắm!

Trong điều kiện giấy bạc Đông Dương còn được lưu hành bình thường; Mà UBKC-HC các tỉnh phải đóng dấu lên giấy bạc như tác giả đã nêu; nghe không ổn chút nào.

Mời các bạn tham khảo thêm tài liệu dưới đây.




Image


Image
Image

Image


----------------------------------

User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Post by Khải-SG » Mon 31 May, 2010 9:53 am

Đứng góc độ của ông Vĩnh thì ông ấy gọi "Việt Nam hóa" vì biến tiền Tây thành tiền Ta. Người Việt Minh ít gọi mình là Việt Minh mà thường do người khác gọi như vậy. Còn đứng góc độ sưu tập rỏ ràng Việt Minh đóng dấu tiền Tây biến thành tiền mình sài trong vùng do VM kiểm soát thì gọi là tiền Việt-Minh hóa thì gắn gọn và đủ chữ không thừa ! Từ ngữ của ông Vĩnh không là chuẩn mực nhất quyết phải theo. Hậu sinh cũng không phải là theo đuôi mà là kế thừa và phát huy. Phải không bà con sưu tầm ?

User avatar
9PN
Posts: 4035
Joined: Wed 16 Aug, 2006 12:27 am
Location: California

Post by 9PN » Mon 31 May, 2010 10:33 pm

Khải-SG wrote:Đứng góc độ của ông Vĩnh thì ông ấy gọi "Việt Nam hóa" vì biến tiền Tây thành tiền Ta. Người Việt Minh ít gọi mình là Việt Minh mà thường do người khác gọi như vậy. Còn đứng góc độ sưu tập rỏ ràng Việt Minh đóng dấu tiền Tây biến thành tiền mình sài trong vùng do VM kiểm soát thì gọi là tiền Việt-Minh hóa thì gắn gọn và đủ chữ không thừa ! Từ ngữ của ông Vĩnh không là chuẩn mực nhất quyết phải theo. Hậu sinh cũng không phải là theo đuôi mà là kế thừa và phát huy. Phải không bà con sưu tầm ?
Hỏng có đồng ý chử "Việt Minh hóa" của bác 3 rồi vì lần đầu tiên mới biết. Không chừng chử "Việt Minh Hóa" là "Copyright" của bác 3.

Việt Nam Hóa: Có thể nhầm lẩn chử hay dùng trong chiến tranh Việt-Mỹ. Nếu tựa đề trong phần ấy chử "Việt Minh Hóa" thì bác VX cũng sẽ đăng nguyên phần đó. Mục đích đưa lên để các bác đọc nội dung....

Dạ, chấm hết ạ...

User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Post by Khải-SG » Mon 31 May, 2010 11:53 pm

Trở lại để chấm hết :

1) Các văn bản trưng bày thuộc thời Quốc gia Việt nam. Nói VNCH là sai hòan toàn về tính thời gian của lịch sử nước Việt dấu yêu của anh 9PN và của chúng ta.

2) Trưng bày những mẫu tiền rách đôi có đóng dấu sài tạm của Việt Minh lên tiền Đông Dương là chấp nhận được nhưng nó không phản ánh cốt lỏi trọng yếu của những văn bản trên.

3) Từ ngữ "tiền Việt-Minh hóa" dùng để gọi tiền Đông Dương bị Việt Minh đè dấu sài đỡ, lần đầu tiên được sử dụng. Nó là một danh từ (noun) gọi cho một "đồ vật". Cụm từ "Việt Nam hóa tiền Đông Dương" hay "biến tiền Tây thành tiền Ta" là động từ kép (compound verb) được các bậc lão bối sử dụng trong những đọan hồi ký, bài báo,... khiến người đọc hiểu rỏ được hành động (action) đó là gì. Ông Khải-SG không sửa đổi kiểu gọi thành " Việt Minh hóa tiền Đông Dương" nên không có gì sai phạm./.





vĩnh-xương
Posts: 26
Joined: Tue 09 Sep, 2008 12:21 pm
Location: khánh hoà

Post by vĩnh-xương » Mon 07 Jun, 2010 2:39 am

Mời các bạn tham khảo thêm tài liệu dứoi đây.



Image

Image


Image


Image

-------------------------------------------------------------

User avatar
vominhcuong
Posts: 367
Joined: Sat 22 Mar, 2008 3:01 am
Location: CLB sưu tầm Gia Định

Post by vominhcuong » Tue 08 Jun, 2010 1:32 am

Bác Vĩnh Xương cho tham khảo có 1 xíu... nên tôi đánh máy lại hết bài viết để các bác tiện tham khảo.
Các bác cứ copy sử dụng thoải mái, chỉ cần nhớ tên người "hồi chép" (chép lại) là OK thôi rồi.
-------------------------

Đuốc Nhà Nam * Số Xuân Tân Hợi * Đặc biệt TIỀN * Mỗi số 100đ
Trụ sở : 4 Nguyễn Văn Thinh - Saigon * Điện thoại : 20.857 * Hộp thư 504
Chủ nhiệm kiêm chủ bút : TRẦN TẤN QUỐC
---------- oOo ----------
Số lượng giấy bạc Việt Nam Cộng Hòa lưu hành
và số tiền ký thác tại các ngân hàng
(tài liệu chánh thức của Ngân hàng Quốc gia công bố trước thế giới)

Tác giả : Trần Tấn Quốc
(Hồi chép : Võ Minh Cường)

“Đuốc Nhà Nam” đã thắng trọn vẹn
trong 2 ván bài “cầu âu” tài chánh của Chánh phủ


Việt Nam Cộng Hòa có Ngân hàng Quốc gia Việt Nam thành lập do Dụ số 48 ngày 31-12-1954, là một cơ quan phát hành tiền giấy.

Người Pháp dùng danh từ “Ngân hàng phát hành tiền giấy” nhưng người Anh và người Mỹ lại dùng danh từ “Ngân hàng Trung ương - Central Bank” để chỉ loại ngân hàng nói trên.

Phải nhận rằng, danh từ ngân hàng trung ương hay ngân hàng phát hành rất phổ thông, nhưng những người dùng nó không chịu lưu ý tới một định nghĩa rõ ràng. Vậy, trước khi đi vào vấn đề Giấy bạc lưu hành ở Việt Nam Cộng Hòa, ta phải định nghĩa danh từ ngân hàng trung ương thường dùng để chỉ một ngân hàng lớn, có thế lực tài chánh, làm một số lớn nghiệp vụ với các ngân hàng khác, hơn là với tư nhân và trong những nghiệp vụ đó chỉ nhằm phụng sự quyền lợi rộng rãi của: a) đơn vị tiền tệ quốc gia; b) thị trường tiền tệ tài chánh trong nước; hơn là quyền lợi riêng biệt của tư nhân hay công ty có cổ phần tại ngân hàng lớn đó.

Còn tại Việt Nam Cộng Hòa, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ngoài vấn đề phát hành tiền giấy,còn có hai nhiệm vụ sau đây:
– Giữ những món tiền dự trữ (réserves) của cá ngân hàng thương mãi
– Chiết khấu những thương phiếu của các ngân hàng thương mãi

Một quan điểm khác cho rằng nhiệm vụ của ngân hàng trung ương là “giữ và bảo vệ khối tiền kim khí trong nước”. Nhiều kinh tế gia cho rằng ngân hàng trung ương đóng vai trò “quốc tế” nghĩa là bảo vệ khối tiền kim khí của toàn quốc, làm thế nào cho khối tiền này đừng rời bỏ Tổ quốc mà chạy trốn sang nước khác. Về phương diện quốc nội, ngân hàng trung ương phải là cơ quan luôn luôn gắng sức lôi kéo, thu hút về hầm sắt của mình tất cả giấy bạc lưu hành trong nước, thu về được bao nhiêu càng hay bấy nhiêu và chỉ để lại trong tay dân chúng hay các ngân hàng thương mãi một số “tiền giấy” đại diện cho tiền kim khí.
Hiểu như vậy rồi, ta mới nhận xét về nhiệm vụ của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trong giai đoạn hiểm nghèo của lịch sử mà không sợ sai lầm.
* * *

Dụ 17-12-1955 : công bố nền độc lập của tiền tệ Việt Nam
Kể từ ngày đó, đồng bạc Việt Nam được chánh thức tuyên bố không thuộc khu vực đồng quan Pháp nữa mà cũng kể từ ngày đó, hối suất chánh thức của nó là 35 đồng ăn 1 đô-la.

Như mọi người đều biết, bản vị của đồng bạc Việt Nam là cái chất hay giá trị dùng làm căn bản cho đồng bạc. Theo Dụ nói trên, đồng bác Việt Nam được so sánh giá trị của nó với một ngoại tệ (như 35 đồng ăn 1 đô-la). Sự định nghĩa “so sánh” này KHÔNG CHO PHÉP ta coi đồng đô-la là bản vị của đồng bạc Việt Nam. Vì sự cải hoán giữa đồng bạc và một ngoại tệ KHÔNG ĐƯỢC TỰ DO. Hơn nữa, sắc luật ngày 03 tháng 9 năm 1966 sửa đổi Dụ trên đây: “Việc phát hành đồng bạc Việt Nam KHÔNG CÒN BỊ BẮT BUỘC PHẢI CÓ TRỮ KIM nữa”.

Trong một chế độ “tiền giấy bất khả cải hoán” tức không thể đổi được lấy VÀNG, sự phát hành tiền giấy đã trở thành hiểm nghèo: NẠN LẠM PHÁT.
Rồi từ LẠM PHÁT “che đậy” tới LẠM PHÁT PHI MÃ, từ LẠM PHÁT “hạn chế” tới LẠM PHÁT TRỌN VẸN, đồng bạc Việt Nam ngày một mất giá. Mất giá vì ngân hàng Quốc gia phải cho nhà nước mượn xài, gọi là “ứng trước cho ngân sách”, mượn không định ngày trả.
* * *

Số lượng giấy bạc đã tung ra lưu hành trong dân chúng ngày một nhiều
Theo tài liệu đã được công bố cho tất cả ngân hàng trên thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã in ra giấy bạc nhiều lắm, nhưng đã cho lưu hành từ tháng chạp năm 1957 tới tháng chín năm 1970, số lượng giấy bạc như sau :

– Tháng Chạp năm 1957: 8 tỷ 259 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chạp năm 1958: 9 tỷ 139 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chạp năm 1959: 10 tỷ 071 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chạp năm 1960: 12 tỷ 158 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chạp năm 1961: 12 tỷ 888 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chạp năm 1962: 14 tỷ 107 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chạp năm 1963: 16 tỷ 644 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chạp năm 1964: 20 tỷ 422 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chạp năm 1965: 36 tỷ 106 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chạp năm 1966: 48 tỷ 621 triệu bạc Việt Nam [in nhầm 48 tỷ 921 triệu bạc - ghi chú của người hồi chép]
– Tháng Chạp năm 1967: 67 tỷ 099 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chạp năm 1968: 99 tỷ 618 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chạp năm 1969: 114 tỷ 113 triệu bạc Việt Nam

Qua năm 1970, giấy bạc lưu hành mỗi tháng mỗi tung ra theo nhịp độ sau đây :
– Tháng Giêng năm 1970: 125 tỷ 035 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Hai năm 1970: 128 tỷ 701 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Ba năm 1970: 125 tỷ 796 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Tư năm 1970: 123 tỷ 481 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Năm năm 1970: 123 tỷ 669 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Sáu năm 1970: 124 tỷ 629 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Bảy năm 1970: 125 tỷ 366 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Tám năm 1970: 125 tỷ 568 triệu bạc Việt Nam
– Tháng Chín năm 1970: 125 tỷ 323 triệu bạc Việt Nam

Qua năm 1971, số giấy bạc lưu hành sẽ tăng nhanh hơn vì nhu cầu ngân sách quốc gia rất cấp bách. Chúng tôi sẽ ghi những tài liệu đó lúc sau Tết.
Còn số lượng giấy bạc của dân chúng gởi ở các ngân hàng và Ngân hàng Quốc gia dự trữ tối thiểu ?

Theo tài liệu của Quốc gia Ngân hàng thì cũng thời gian nói trên, từ tháng Chạp năm 1957 tới tháng 9 năm 1970, số tiền của dân chúng gởi ở các ngân hàng được ghi như sau (chúng tôi ghi vài năm cũng đủ cho bạn đọc nhận định “đồng bạc Việt nam với dân chúng”):
– Tháng Chạp năm 1957 : giấy bạc lưu hành là 8 tỷ 259 triệu bạc thì người ta gởi ở các ngân hàng tổng cộng 5 tỷ 395 triệu bạc (tức 63,25%)
– Tháng Chạp năm 1966 : giấy bạc lưu hành là 48 tỷ 621 triệu bạc thì người ta gởi ở các ngân hàng 16 tỷ 805 triệu bạc (số tiền gởi sụt còn 34,56%)
– Tháng Chạp năm 1969 : giấy bạc lưu hành là 114 tỷ 113 triệu bạc thì người ta chỉ còn gởi ở ngân hàng trung ương 27 tỷ 189 triệu bạc (lại sụt nữa còn 23,82%)
– Đến tháng 9 năm 1970 : giấy bạc lưu hành là 125 tỷ 323 triệu bạc thì người ta lại gởi ở các ngân hàng ít hơn năm trước: 25 tỷ 600 triệu bạc, thay vì 27 tỷ 189 triệu bạc (số tiền gởi lại sụt còn 20,42%)

Khối lượng tiền tệ tung ra nhiều mà người ta đem gởi ở các ngân hàng ngày một ít dần, thấy rõ rệt như sau :
– Tháng 12 năm 1957 : gởi 63,25% so với số giấy bạc lưu hành
– Tháng 12 năm 1966 : gởi 34,56%
– Tháng 12 năm 1969 : gởi 23,82%
– Tháng 09 năm 1970 : gởi 20,42%
* * *

ĐUỐC NHÀ NAM giữ lời hứa
Ngày 17 tháng 9 năm 1970, ĐUỐC NHÀ NAM có bài NHẬN ĐỊNH đặt ở mục Xã thuyết với tựa là “Với ván bài “cầu âu” về tài chánh, CHẮC CHẮN chánh phủ thua”.

Mở đầu, Đuốc Nhà Nam viết: “Chúng tôi sửng sốt khi được biết qua thông cáo rằng Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ấn định mức tiền lời mà các ngân hàng thương mãi phải trả cho người gởi tiền như sau: nếu gởi tiền mà 1 năm mới lấy ra thì người gởi sẽ được lời 20%.”

Đuốc Nhà Nam liền đặt câu hỏi: “Đây quả thật một quả bom nổ trong giới kinh tế tài chánh miền Nam Việt Nam. Người dân tự hỏi: Tại sao giữa lúc tiền tệ rối loạn, chánh phủ lại cho phép người dân ăn lời nhiều dữ vậy? Hay là một ván bài “cầu âu” của Ngân hàng Quốc gia ?”.
Điều này, chúng tôi quả quyết với người Mỹ rằng: “các ông tính toán sai rồi ! Bây giờ các ông có tính cho lời tới 50% đi nữa, kết quả cũng sẽ là con số… 0”.

Chúng tôi đã từng nói: “Chừng nào mà hôm nay 1 chiếc Honda giá 30.000 đồng… năm 1971 cũng 30.000 đồng thì chẳng có một ai mua Honda nữa. Và chừng đó, nhà băng hạn chế tiền lời 2%, người có tiền sẽ ùn ùn đem tới gởi ở ngân hàng, chớ cần gì cho lời tới 20%.”

Đã vậy, hầu hết những người có tiền nhiều đều là những người có huê lợi bất chánh. Thử hỏi, có ai dại gì “vạch lưng” cho Ty Thuế vụ hỏi thăm… sức khỏe, như hỏi “ông bà làm ơn cho chúng tôi xem biên nhận có đóng Thuế Tổng Hợp Lợi Tức trong số tiền ông bà gởi ở ngân hàng chưa ?”.

ĐUỐC NHÀ NAM chắc chắn chánh phủ chánh phủ phải thua ván bài “cầu âu” tài chánh như vậy nên chúng tôi đi đến kết luận: “NAY CHÁNH PHỦ ĐÃ XUỐNG LỊNH RỒI, MỌI VIỆC ĐÃ AN BÀI. CHÚNG TÔI CHỜ XEM 3 THÁNG NỮA. CHỪNG ĐÓ, NẾU QUẢ THẬT THIÊN HẠ HAM LỜI 20%, mỗi năm đua nhau mang tiền tới cho ngân hàng vay bằng lối ký thác, CHÚNG TÔI SẼ ĐỐT HẾT SÁCH VỞ KINH TẾ TÀI CHÁNH TRONG THƯ VIỆN VÀ SẼ QUĂNG VIẾT GIẢI NGHỆ” (thư viện rất công phu)
Ba tháng đã qua…
* * *

ĐUỐC NHÀ NAM thắng 100% và thắng luôn 2 ván bài “cầu âu” của chánh phủ

Ba tháng đã qua, chúng tôi chờ đơi hôm nay mới công bố, nhân tiện phát hành số báo ĐẶC BIỆT TIỀN này, chớ không vội gì… như thường tình đã lên tiếng khi được kết quả cuộc tranh đấu mà nhiều người thương mến chúng tôi với những bài “Kinh tế tài chánh”, lo ngại cho chúng tôi thua mà đốt sách kinh tế tài chánh thư viện - sưu tầm nửa thế kỷ - và giải nghệ như đã công khai hứa trước dư luận toàn quốc.

VÁN BÀI SỐ I - Về việc chánh phủ “cầu âu” tài chánh thì tài liệu của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trên đây đã chứng minh. Chúng tôi xin phép nhắc lại vài con số:

“Tháng Chạp năm 1957, giấy bạc lưu hành là 8 tỷ 259 triệu bạc thì người ta gởi ở các ngân hàng tất cả là 5 tỷ 395 triệu bạc Việt Nam.”

Đến tháng 9 năm 1970 - Sau khi Ngân hàng Quốc gia cho phép các ngân hàng thương mãi nhận ký thác định kỳ và tiền lời là 20% thì thực tế đã rõ ràng như ban ngày rằng:

“Giấy bạc lưu hành là 125 tỷ 323 triệu bạc Việt Nam, nhưng tiền ký thác của tất cả ngân hàng rầm rộ quảng cáo tiền lời 20% thì số tiền ký thác đó vỏn vẹn có… 25 tỷ 600 triệu bạc.”

Nhưng để chứng minh một cách cụ thể khác là vào tháng 8 năm 1970, khi Nga6nhan2g Quốc gia Việt Nam chưa đưa ván bài cầu âu tài chánh thì:
“Giấy bạc lưu hành là 125 tỷ 168 triệu bạc thì người ta ký thác ở các ngân hàng một số tổng kết là 26 tỷ 009 triệu bạc.” (1)

(1) : Trên đây là tài liệu trong Kinh tế tập san số 10 năm 1970 của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam xuất bản gởi đi các sứ quán Việt Nam ở ngoại quốc (trang 107)

Đã thắng ván bài “cầu âu” tài chánh của chánh phủ rõ rệt như vậy rồi, mà chúng tôi vẫn chưa thỏa mãn, bởi vì:

Không rõ có phải do câu ĐUỐC NHÀ NAM đã viết trước đó, ngày 17-9-1970: “Những người có tiền nhiều đều là những kẻ có huê lợi bất chánh, thử hỏi có ai dại gì “vạch lưng” cho Ty Thuế vụ hỏi thăm sức khỏe…”, gần một tháng rưỡi sau, hai ngân hàng Mỹ tại Saigon là The Chase Manhattan Bank và bank of America mướn báo Việt ngữ đăng quảng cáo trọn một trang lớn ngày 29-10-1970 cho biết:

“Đầu tiên tại Việt Nam, Mã Nhựt Tân Ngân Hàng (tức The Chase Manhattan Bank) cấp phát một chứng chỉ ký thác định kỳ hoàn toàn tự do chuyển nhượng. Trên chứng chỉ này KHÔNG CÓ DANH TÁNH của quý vị và ngân hàng không lưu tích một lý lịch nào ?”

Thật tình, ĐUỐC NHÀ NAM cử ra một nguyên do để cắt nghĩa tại sao ngân hàng cho tiền lời nhiều thế nhưng người ta vẫn không chịu gởi tiền ở ngân hàng, không ngờ chúng tôi “nói chơi” mà 2 ngân hàng Mỹ “làm thiệt”, rồi Tín Nghĩa Ngân Hàng làm theo 12 ngày sau đó.
* * *

ĐUỐC NHÀ NAM thắng luôn ván bài thứ nhì…

VÁN BÀI SỐ II - Ngày 30 tháng 10 năm 1970, ĐUỐC NHÀ NAM đặt hàng tít lớn 8 cột trên đầu trang nhứt “Khẩn cấp báo động một biến cố tiền tệ Việt Nam” và viết một bài đặt nơi cột giá trị nhứt của ĐUỐC NHÀ NAM cốt lưu ý nhà cầm quyền, thì không đầy 2 tuần lễ sau, Bộ Tài chánh triệu tập một Ủy ban đặc biệt đaể nghiên cứu vấn đề ĐUỐC NHÀ NAM đã báo động.
Rồi thì một tuần nhựt sau, Ủy ban đặc biệt đi đến kết luận - như chúng tôi đã nêu rõ chi tiết và ngày tháng ở một bài khác trong số báo ĐẶC BIỆT TIỀN này (xin bạn đọc tìm đọc rõ ràng hơn) - rằng: “Thuế Tổng Hợp Lợi Tức do một một đạo Luật thiết lập thì bây giờ muốn miễn thứ thuế đó, phải có một đạo Luật khác”.

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam liền tống một văn thơ gởi cho các ngân hàng nhận “ký thác vô danh” miễn thuế đó, phải: “GHI TÊN HỌ ĐỊA CHỈ THEO CĂN CƯỚC của người thọ lãnh tiền lời của ngân hàng, bằng không lấy tên người thọ lãnh tiền lời thì Ty Thuế vụ sẽ bắt buộc NGÂN HÀNG CHỊU TRÁCH NHIỆM về số tiền THUẾ TỔNG HỢP LỢI TỨC phải đóng là 50%, nếu số tiền đó trên 800.000 đồng”.

Ngoài ra, cơ quan Trước bạ còn đòi Thuế con niêm khi người gởi “vô danh” đem va-li bạc tới ký thác định kỳ ở ngân hàng (xem chi tiết ở bài khác).
Thôi, vậy đủ rồi. ĐUỐC NHÀ NAM có thắng hai ván bài “cầu âu” tài chánh mà chánh phủ đã đặt ra và chánh phủ thua trọn vẹn, cũng không phải việc quan trọng.

Vấn đề phải đặt ra bây giờ là liệu năm 1971 này, giấy bạc lưu hành sẽ tăng gia với tốc độ nào hay là chánh phủ có biện pháp gì để hãm bớt tốc lực lạm phát chăng !

Chúng tôi sẽ có bài NHẬN ĐỊNH trong loạt bài kinh tế tài chánh trên ĐUỐC NHÀ NAM sau Tết Tân Hợi 1971.
HẦM VƯỢT SÔNG ơi ... "dìm và dắt", "chậm mà chắc" !!!

Post Reply

Return to “Tiền Giấy Đông Dương”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests