Kinh tế kháng chiến tỉnh Thủ Dầu Một giai đoạn 1945-1954

Các tài liệu phục vụ cho việc sưu tầm
Post Reply
viet-numis
Site Admin
Posts: 1345
Joined: Mon 17 Apr, 2006 2:44 pm

Kinh tế kháng chiến tỉnh Thủ Dầu Một giai đo

Post by viet-numis » Thu 23 Jul, 2009 6:18 pm

Với chính sách khai thác triệt để nguồn tài nguyên sẵn có của các nước thuộc địa, nên tính đến năm 1945, dù Pháp đã thực hiện một số biện pháp nhằm canh tân nền kinh tế như áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp, nhập một số giống mới... nhưng kinh tế Thủ Dầu Một giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 chẳng những không khá lên mà ngày một kiệt quệ thêm.

Do đó, cùng với việc giành được độc lập trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân Thủ Dầu Một cũng “thừa hưởng luôn” của chế độ cũ một nền kinh tế trống rỗng, mục nát. Ngân khố của tỉnh hầu như trống rỗng, nông nghiệp thì tiêu điều vì ruộng đất trước đây phần lớn nằm trong tay giới địa chủ nay trở nên hoang hóa (trung bình mỗi địa chủ chiếm khoảng 530 mẫu, làm cho 2/3 hộ nông dân thiếu hoặc không có ruộng cày). Cơ sở vật chất của các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền quá lạc hậu. Hoạt động thương nghiệp ngừng trệ, bế tắc, một phần do sự chèn ép của giới tư bản Pháp và Hoa kiều, một phần do ảnh hưởng của cuộc chiến khốc liệt đã làm cho hàng hóa trở nên khan hiếm, thiếu thốn. Giai cấp địa chủ số bỏ trốn, số còn lại đem cất giấu của cải rồi nằm yên chờ thời. Nông dân Thủ Dầu Một phần lớn thiếu hoặc không có ruộng cày, phần do sự bao chiếm ruộng đất của địa chủ, quan lại, phần do chiến tranh kéo dài nên của cải khánh kiệt, đói kém. Hàng vạn công nhân đồn điền cao su Dầu Tiếng, nhà Đèn, Nhà máy xe lửa Dĩ An... trở nên thất nghiệp, đời sống vô cùng khó khăn. Thợ thủ công các xưởng chế biến đường, các xưởng mộc, lò gốm... nay lâm vào khủng hoảng vì sản phẩm làm ra không thể tiêu thụ được. Bên cạnh đó, Ngân hàng Đông Dương lại còn nằm trong tay giới tư bản Pháp, cộng với đồng “Kim quan”, “Quốc tệ” của quân đội Tưởng đã làm lũng đoạn thêm nền kinh kế Việt Nam nói chung và Thủ Dầu Một nói riêng. Với chính sách khai thác triệt để nguồn tài nguyên sẵn có của các nước thuộc địa, nên tính đến năm 1945, dù Pháp đã thực hiện một số biện pháp nhằm canh tân nền kinh tế như áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp, nhập một số giống mới... nhưng kinh tế Thủ Dầu Một giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 chẳng những không khá lên mà ngày một kiệt quệ thêm. Do đó, cùng với việc giành được độc lập trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân Thủ Dầu Một cũng thừahưởngluôn của chế độ cũ một nền kinh tế trống rỗng, mục nát. Ngân khố của tỉnh hầu như trống rỗng, nông nghiệp thì tiêu điều vì ruộng đất trước đây phần lớn nằm trong tay giới địa chủ nay trở nên hoang hóa (trung bình mỗi địa chủ chiếm khoảng 530 mẫu, làm cho 2/3 hộ nông dân thiếu hoặc không có ruộng cày). Cơ sở vật chất của các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền quá lạc hậu. Hoạt động thương nghiệp ngừng trệ, bế tắc, một phần do sự chèn ép của giới tư bản Pháp và Hoa kiều, một phần do ảnh hưởng của cuộc chiến khốc liệt đã làm cho hàng hóa trở nên khan hiếm, thiếu thốn. Giai cấp địa chủ số bỏ trốn, số còn lại đem cất giấu của cải rồi nằm yên chờ thời. Nông dân Thủ Dầu Một phần lớn thiếu hoặc không có ruộng cày, phần do sự bao chiếm ruộng đất của địa chủ, quan lại, phần do chiến tranh kéo dài nên của cải khánh kiệt, đói kém. Hàng vạn công nhân đồn điền cao su Dầu Tiếng, nhà Đèn, Nhà máy xe lửa Dĩ An... trở nên thất nghiệp, đời sống vô cùng khó khăn. Thợ thủ công các xưởng chế biến đường, các xưởng mộc, lò gốm... nay lâm vào khủng hoảng vì sản phẩm làm ra không thể tiêu thụ được. Bên cạnh đó, Ngân hàng Đông Dương lại còn nằm trong tay giới tư bản Pháp, cộng với đồng Kimquan, Quốctệ của quân đội Tưởng đã làm lũng đoạn thêm nền kinh kế Việt Nam nói chung và Thủ Dầu Một nói riêng.

Để ổn định tình hình, sau Cách mạng Tháng Tám, trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một, Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp tỉnh, huyện, xã được thành lập. Tỉnh Đảng bộ và Ủy ban nhân dân các cấp Thủ Dầu Một chủ trương tập trung giải quyết các nhiệm vụ cấp bách trước mắt, trong đó bức xúc nhất là vấn đề giải quyết nạn đói và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới được thành lập. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh tiến hành tịch thu ruộng đất của chủ tư bản thực dân, địa chủ, ác ôn, chủ đồn điền để chia, cấp cho nông dân, công nhân canh tác, đồng thời ban hành luật xóa bỏ thuế thân, giảm 25% tô thuế nông nghiệp để khuyến khích nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất... Để ổn định tình hình, sau Cách mạng Tháng Tám, trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một, Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp tỉnh, huyện, xã được thành lập. Tỉnh Đảng bộ và Ủy ban nhân dân các cấp Thủ Dầu Một chủ trương tập trung giải quyết các nhiệm vụ cấp bách trước mắt, trong đó bức xúc nhất là vấn đề giải quyết nạn đói và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới được thành lập. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh tiến hành tịch thu ruộng đất của chủ tư bản thực dân, địa chủ, ác ôn, chủ đồn điền để chia, cấp cho nông dân, công nhân canh tác, đồng thời ban hành luật xóa bỏ thuế thân, giảm 25% tô thuế nông nghiệp để khuyến khích nhân dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất...

Phấn khích trước thành quả cách mạng vừa mới đạt được, nhân dân Thủ Dầu Một nô nức ủng hộ chính quyền cách mạng, hưởng ứng rầm rộ phong trào “Tuần lễ vàng”, xây dựng Quỹ “độc lập”, “Bánh ổ cho kháng chiến”, “Ổ bánh cho tiền tuyến”, “Hũ gạo nuôi quân”, quyên góp “đồ đồng”, mua “Vé kháng chiến” http://forum.viet-numis.com Với sự hưởng ứng tích cực của các tầng lớp nhân dân và chính họ đã góp phần giải quyết không ít khó khăn cho lực lượng kháng chiến trên chiến trường Thủ Dầu Một trong những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám.

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, các cơ quan Đảng và chính quyền Thủ Dầu Một nhanh chóng rút vào rừng, vào vùng sâu, vùng xa xây dựng căn cứ kháng chiến. Trên cơ sở đó, hệ thống chiến khu kháng chiến ngày một hình thành, điển hình như Mỹ Bình (Thị xã), An Sơn (Lái Thiêu), An Phú (Bến Cát)... Cùng với cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra ác liệt, công tác xây dựng nền kinh tế kháng chiến trở thành một nhiệm vụ quan trọng và vô cùng cấp thiết. Trước mắt, tỉnh thiếu hụt khoảng 230.000 giạ lúa cho lực lượng kháng chiến mới rút vào vùng kháng chiến. Do vậy, năm 1946, Tỉnh đảng bộ Thủ Dầu Một thành lập bộ phận phụ trách kinh tế - tài chánh chuyên trách gồm nhiều cán bộ có trình độ chuyên môn như Trần Minh Phương, Huỳnh Văn Lý, Nguyễn Văn Năm, Hồng Văn Đến, Cao Văn Nhi, Võ Văn Quới nhằm tiến hành vận động nhân dân quyên góp lương thực, thực phẩm cho kháng chiến. Tiếp đó, Ban Kinh tài tỉnh được thành lập. Lúc này, trên địa bàn tỉnh Thủ Dầu Một, ngoài Ban Kinh tài còn có Ban Liên lạc Tiếp tế của Ủy ban Hành chính Kháng chiến và Ban Liên lạc Tiếp tế miền Đông. Đặc biệt, hầu như mọi đơn vị, cơ quan Dân - Chính - Đảng đều có bộ phận kinh tế - tài chính chuyên lo về đời sống cho cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị với tên gọi là Ban Quân nhu. Tuy nhiên, nhiệm vụ của Ban Kinh tài, của các bộ phận kinh tế - tài chính khác không chỉ dừng lại ở việc vận động quyên góp lương thực, thực phẩm trong nhân dân mà mục tiêu chính là xây dựng một nền kinh tế kháng chiến phát triển toàn diện, đủ sức cung cấp tài lực, vật lực cho quân, dân Thủ Dầu Một sống trong chiến khu, vùng độc lập.
Tháng 12-1946, Trung ương Đảng ta ra chỉ thị “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến” và để cuộc trường kỳ kháng chiến đi đến thắng lợi, Chính quyền kháng chiến Thủ Dầu Một chỉ đạo nhân dân và cán bộ chiến sĩ ra sức “đẩy mạnh sản xuất, tự túc lương thực, thực phẩm”, tiếp tục mở rộng cuộc vận động thi đua sản xuất tiết kiệm với khẩu hiệu: “Giữ người giữ của, xây dựng người xây dựng của, lấy của địch bồi dưỡng cho ta, không để một tấc đất bỏ hoang...” .

Chấp hành chỉ thị của Ủy ban Kháng chiến tỉnh, các Ủy ban tự quản sản xuất được thành lập tiến hành vận động, khuyến khích nhân dân vùng căn cứ, vùng độc lập phát hoang, mở rẫy, trồng cây lương thực, cây hoa màu, khắc phục nạn đói. Ở Bến Cát, Tân Uyên, Lái Thiêu, Châu Thành nhân dân nô nức hưởng ứng, thực hiện khẩu hiệu “tấc đất, tấc vàng”, phục hồi sản xuất. Một khí thế sôi nổi hào hứng chưa từng có tràn ngập các nương rẫy, người dân vùng căn cứ, vùng độc lập phấn khởi, tin tưởng vào chính quyền cách mạng tích cực đua nhau tham gia khai hoang, sản xuất. Do vậy, diện tích sản xuất nông nghiệp tăng lên trông thấy, kết quả sản lượng lúa và màu trong năm 1948 tăng 20 lần so với năm 1947. Đặc biệt, xã Định Hòa (Châu Thành) còn trồng được ngót 20 mẫu mì trải dài từ địa đạo Chiến Xa đến Gò Lang. Tính đến tháng 9-1948, tổng số diện tích ruộng lúa và màu là 7.820 mẫu, số lúa sản xuất được còn lại là 31.723 giạ và chăn nuôi được 2.718 con trâu bò và heo. Nhiều nơi nhân dân còn lập ra “Bồ lúa kháng chiến”, “Sở Mì kháng chiến” để thu mua thóc, mì làm nguồn lương thực dự trữ của du kích xã và lực lượng kháng chiến. Thậm chí, đông đảo bà con nông dân Tân Uyên còn bán chịu lương thực thực phẩm cho chính quyền kháng chiến chờ ngày độc lập mới đòi lại.

Bước sang năm 1949, mặc dù bị địch liên tục càn quét, bắn phá, nhưng tình hình sản xuất nông nghiệp ở vùng chiến khu, vùng độc lập rất khả quan. Theo số liệu quản thu của Ban Kinh tài, tính đến tháng 4-1950, tỉnh đã thu được thuế nông nghiệp với 17.378,57 đồng tiền mặt và lúa 152 giạ. Trong đó, 5.514,91 đồng từ huê lợi quốc gia, 11.863,66 đồng và 152 giạ lúa từ huê lợi quản thu.
Từ sau tháng 2-1951, Trung ương Cục miền Nam được thành lập thay thế cho Xứ ủy Nam bộ; ba quân khu 7, 8, 9 giải thể; Nam bộ được chia thành hai phân liên khu: Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây. Tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Biên Hòa lúc này sáp nhập thành tỉnh Thủ Biên trực thuộc Phân liên khu miền Đông. Chủ trương chia cắt, sáp nhập về mặt địa lý hành chánh nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho việc chỉ đạo, lãnh đạo quân dân tham gia kháng chiến, tham gia lao động sản xuất phát triển kinh tế. Từ năm 1951 trở đi, theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Kinh tài còn giúp vốn cho đồng bào thu mua nông sản, mở các cơ sở buôn bán, lập các cơ sở tín dụng như Quỹ nguồn thương, Bình dân ngân hàng, Tập đoàn sản xuất.

Tuy nhiên, đến cuối năm 1952, trận lụt Nhâm Thìn đã phá hủy của nhân dân Thủ Biên đến 80% diện tích lúa và hoa màu. Thế nhưng, tính đến tháng 9-1953, nhân dân Thủ Biên đã tổ chức canh tác được 17.200 mẫu ruộng, trồng 11.300.000 gốc mì; thuế các loại thu được 1.919 đồng; thu sản xuất được 3.359 đồng; trong đó cơ quan - bộ đội sản xuất được gần 10.000 giạ lúa. Đặc biệt, những năm 1952, 1953, Ban Kinh tài còn chủ trương cho nhân dân vay tiền, giống, phân bón để mở rộng sản xuất. Tính đến hết năm 1953, nông dân tỉnh Thủ Biên đã làm được 17.200 mẫu ruộng, trồng được 1.300.000 gốc mì, trồng phụ được 600 giạ lúa. Nếu chỉ tính riêng 4 đến 6 tháng đầu năm 1952, nhân dân đã bán cho Chính phủ gần 10.000 tạ thóc, nộp cho Chính phủ 1.919,00 đồng tiền thuế, thu sản xuất được 3.359,00 đồng (tiền Việt Nam).

Bước sang năm 1954, tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thủ Biên khả quan hơn. Nhân dân canh tác 1.703 mẫu ruộng, trong đó có 300 mẫu mới khai hoang ven sông Đồng Nai và các cơ quan Dân - Chính - Đảng làm được 163 mẫu rẫy. Mặt khác, để chống đói và tích lũy cho kháng chiến, Tỉnh ủy đã phát động phong trào sản xuất mùa nghịch, nên chỉ riêng mùa nghịch này, nhân dân đã làm được 404 mẫu lúa, 316 mẫu khoai lang và mì. Riêng các cơ quan dân chính và bộ đội làm được 21 mẫu lúa, 55 mẫu khoai mì, 33 mẫu khoai lang, trồng được 10.000 bụi môn và 19 mẫu bắp.

Cùng với nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chính là ngành nghề truyền thống là một thế mạnh của cư dân Thủ Dầu Một. Do vậy, nếu không kể đến hệ thống công binh xưởng có mặt ở khắp các chiến khu kháng chiến ngay trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, đến năm 1947, hàng loạt cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp bắt đầu hình thành khắp vùng kháng chiến. Điển hình là sự ra đời của nhà may quần áo bằng các loại vải thô mua từ Chợ Lớn; xưởng làm mật mía với máy quay ly tâm thô sơ; xưởng thuộc da may sắc cốt cho cán bộ chiến sĩ mang theo khi công tác; xưởng gốm làm đồ gốm dân dụng phục vụ đời sống hàng ngày và sản xuất cả vỏ đạn, vỏ mìn, mìn sành cho các xưởng quân giới chế tạo vũ khí... Đặc biệt, tại công trường Gò Môn, nhân dân và du kích An Tây còn sử dụng khuôn đúc đầu đạn, sau này các công binh xưởng phát triển mạnh ở chiến khu Đ.

Như vậy, dù chỉ là những sản xuất phân tán, nhỏ lẻ và chủ yếu phục vụ cho nhu cầu trực tiếp của nhân dân, chiến sĩ vùng căn cứ, nhưng các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp ở đây ra đời và phát triển cũng biến chuyển khá nhanh, dù chúng mang tính cơ động cao, di chuyển liên tục để tránh các cuộc càn quét của Pháp. Tính chung, đến cuối năm 1947, trong vùng kháng chiến có khoảng 96 lò đường. Dù lúc này, giá mía đường trên thị trường giảm xuống 10%, làm cho khoảng 2/3 số lò đường không thể tiếp tục hoạt động. Thế nhưng, chỉ với 29 lò đường, năm 1948 đã sản xuất được đến 70.000kg đường kính phục vụ nhân dân vùng chiến khu, vùng độc lập(14). Bên cạnh đó, Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh còn tích cực ủng hộ vốn để bà con tiếp tục trồng mía làm đường. Đặc biệt, để khuyến khích phát triển các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở vùng chiến khu, vùng độc lập, chính quyền kháng chiến đã ra quyết định giảm đến 60% thuế đối với các lò đường, 40% đối với các lò gốm và 60% cho các cơ sở chế biến thực phẩm .

Sống ở chiến khu, vùng độc lập - nơi ruộng ít, rừng nhiều, hơn nữa, nhân dân và anh em chiến sĩ luôn luôn di chuyển để tránh các cuộc càn quét bắn phá của địch. Do vậy, đời sống kinh tế ở chiến khu, vùng độc lập gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho nhân dân và lực lượng kháng chiến. Đứng trước thực trạng đó, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một chỉ đạo lực lượng vũ trang và các ban ngành “tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân đi lại, buôn bán giữa vùng tạm chiếm và vùng căn cứ”.

Chấp hành Chỉ thị của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, lực lượng quân dân chính Đảng trong tỉnh cùng nhân dân vùng chiến khu lập ra nhiều chợ làm nơi buôn bán trao đổi hàng hóa, nối liền các vùng chiến khu đến các vùng độc lập như Tân Tịch, Bình Chánh, Tân Khánh... Do vậy, ngay từ năm 1946, “việc đi lại buôn bán trong vùng dễ dàng hơn” và làm “tăng thêm lượng hàng hóa cho khu vực”.
Năm 1947, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ tiến hành xin phép Trung ương cho phát hành tờ giấy bạc Cụ Hồ. Đặc biệt, Trung ương còn cấp cho Thủ Dầu Một loại giấy bạc mệnh giá 100 đồng dùng để trao đổi, lưu thông trong vùng căn cứ. Hai sự kiện này đã kích thích sự buôn bán lưu thông hàng hóa ở vùng căn cứ, vùng độc lập ngày một trở nên nhộn nhịp hơn.

Dù là địa bàn không mấy ổn định, các hoạt động tài chính, chợ búa, lưu thông hàng hóa thường xuyên bị gián đoạn. Hơn nữa, địch luôn luôn bắn phá, cô lập, làm cho nền kinh tế nói chung, nhất là hoạt động thương nghiệp, dịch vụ và lưu thông hàng hóa trở nên vô cùng khó khăn. Dù trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, chính quyền kháng chiến Thủ Dầu Một vẫn luôn tìm cách tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ nhân dân tự do đi lại, buôn bán giữa vùng tạm chiếm và vùng căn cứ, vùng độc lập, vừa phá thế bao vây kinh tế của địch vừa nhằm bảo đảm lương thực, thực phẩm và hàng hóa cho anh em chiến sĩ cùng nhân dân vùng kháng chiến. Đến những năm 1948, 1949, dù tình hình chiến sự vô cùng ác liệt, nhưng hoạt động buôn bán, lưu thông hàng hóa vẫn diễn ra sôi nổi, nhất là tại các địa phương như Châu Thành, Bến Cát, Lái Thiêu, Tân Tịch, Bình Chánh, An Hòa, Tân Khánh, Bến Chang Chang, Bàu Ông Yểng, Sình Bà Đã...

Trong những năm 1951, 1952, 1953, hoạt động kinh tế ở vùng căn cứ, vùng độc lập có lúc trở nên sôi nổi, nhộn nhịp hơn. Các cơ sở thu mua nông sản, tiệm tạp hóa, tiệm chụp hình, tiệm may, tiệm sửa đồng hồ, quán ăn... xuất hiện nhiều thêm lên. Năm 1954, Ủy ban Hành chính Kháng chiến ra quyết định cho phép “nhập khẩu” một số mặt hàng từ ngoài vào vùng căn cứ, kháng chiến. Đặc biệt, Tỉnh ủy, Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh còn ra quyết định cho phép Ban Kinh tài “xuất khẩu” ra vùng tạm chiếm khoai mì và các thứ chế phẩm từ khoai mì; đồng thời quy định thuế đối với một số mặt hàng thiết yếu như phấn thoa sài, kẹp tóc 3%, lạp xưởng 20%, men rượu, thuốc lào 10%, cá hộp, rượu bổ 50%. Mặt khác, Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh còn ra quyết định miễn thuế nhập khẩu cho các loại mặt hàng như dép, xe kéo, vải kaki, sữa... để phục vụ cho đời sống của anh em chiến sĩ và nhân dân sống trong vùng căn cứ, vùng độc lập.

Sự náo nhiệt của chợ búa, cảnh buôn bán, trao đổi hàng hóa luôn diễn ra, dù chỉ trong những thời khắc ngắn ngủi giữa những trận chống càn khốc liệt. Nhưng sự sầm uất của chợ đêm, chợ tạm; cảnh vui vẻ, rộn rã tiếng cười nói của người mua, kẻ bán như minh chứng cho sức sống mãnh liệt và tinh thần bất khuất của người dân Thủ Dầu Một trong những ngày khốn khó nhất của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

***

Nhìn chung, nền kinh tế kháng chiến Thủ Dầu Một giai đoạn 1945-1954 chỉ là một nền kinh tế lạc hậu, phiến diện, thiếu ổn định, một phần do chính sách bao vây kinh tế của địch, một phần do cuộc chiến tranh khốc liệt tàn phá. Nông nghiệp dù phát triển đa dạng nhưng thiếu ổn định kể cả về diện tích, cơ cấu và năng suất thấp kém. Điều đặc biệt là, tại chiến khu, vùng độc lập, các hình thức tổ chức sản xuất như hợp tác xã, tiểu nông đoàn, tập đoàn sản xuất có hình thành với các phương thức sản xuất như vần công, đổi công... nhằm động viên, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất... Dù nông nghiệp ở vùng kháng chiến không được áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, giống mới... mà chỉ sản xuất theo kinh nghiệm truyền thống, nhưng đã giải quyết được nạn thiếu đói theo đúng quy luật của nền kinh tế kháng chiến. Bên cạnh đó, hoạt động của các cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ dù đơn sơ, lạc hậu nhưng nó đã làm cho nền kinh tế kháng chiến đa dạng hơn. Do đó, ta có thể nói, cơ cấu nền kinh tế kháng chiến Thủ Dầu Một là: Nông nghiệp - thủ công nghiệp - thương mại - dịch vụ. Dù là một nền kinh tế đóng, tự cung tự cấp với lối sản xuất nhỏ, manh mún nhưng chính nó đã cung cấp một phần tài lực, vật lực quan trọng cho các mặt trận kháng chiến và nhân dân vùng chiến khu, vùng độc lập suốt từ 1945 đến 1954.

Nguồn http://www.baobinhduong.org.vn/detail.aspx?Item=9713

Post Reply

Return to “Tài liệu tham khảo”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests