Sách : Đường tới Điện Biên Phủ

Các tài liệu phục vụ cho việc sưu tầm
Post Reply
viet-numis
Site Admin
Posts: 1345
Joined: Mon 17 Apr, 2006 2:44 pm

Sách : Đường tới Điện Biên Phủ

Post by viet-numis » Tue 30 Jun, 2009 12:35 pm

Chương 7 cuốn Đường tới Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có thông tin liên quan đến các khoản vay dân trong kháng chiến chống Pháp ( http://forum.viet-numis.com/viewtopic.p ... sc&start=0 ). Mời các bác tham khảo.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp wrote: Image
...
Kháng chiến của ta dựa trên nền kinh tế tự cấp tự túc về mọi mặt, với khẩu hiệu chính là “Toàn dân tham gia sản xuất”. Năm đầu kháng chiến toàn quốc, lòng yêu nước của nhân dân ta đã mang lại một thành tựu mới trong sản xuất lương thực. Nông dân vùng tự do thu được 2.194.000 tấn thóc, tăng hơn 289.000 tấn số với năm 1946 và 474.000 tấn hoa màu. Đời sống người dân kháng chiến tạm đủ no.

Đồng bạc Việt Nam được phát hành từ cuối tháng Giêng năm 1946 ở Nam Trung Bộ làm thí điểm, đã nhanh chóng được cả nước sử dụng. Chấp nhận đồng bạc Việt Nam, thường được gọi là “tiền Cụ Hồ”, nhân dân ta đã biểu thị niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng.

Lương thực dồi dào. Tiền do Nhà nước in ra theo nhu cầu. Chỉ còn lo việc đánh giặc. Nhưng tình hình thuận lợi này chỉ diễn ra trong những năm đầu toàn quốc kháng chiến.

Đế quốc Pháp vốn là một thực dân cáo già. Chiến tranh xâm lược của Pháp không đơn thuần quân sự, là chiến tranh tổng lực. Pháp triệt để khai thác một nhược điểm cơ bản của ta là về mặt kinh tế, tài chính không có nguồn hỗ trợ nào từ bên ngoài. Chúng tập trung làm hai việc: triệt nguồn lương thực và phá giá đồng bạc Việt Nam.

Pháp nhanh chóng chiếm đóng châu thổ sông Cửu Long và sông Hồng, là nơi tập trung nguồn nhân lực và lương thực của Việt Nam. Chúng bịt tất cả những con đường vận chuyển thóc lúa từ vùng bị tạm chiếm ra vùng tự do. Ở nhiều nơi, sau vụ gặt, địch bắt đồng bào tập trung thóc tại một chỗ do chúng kiểm soát, và phát lại hàng ngày theo nhu cầu của từng gia đình. Trong những cuộc càn quét, địch coi trọng việc phá hoại các phương tiện sản xuất, mùa màng, thóc lúa cũng như săn lùng Việt Minh. Chúng đánh giá bắn được một con trâu như diệt được hai du kích! Thóc lúa, hoa màu tìm được đều bị đốt hoặc đổ xuống sông. Chúng dùng đại bác, máy bay bắn phá trên những cánh đồng, cản trở nhân dân sản xuất, và dùng xe bọc thép lội nước trà trên ruộng lúa đang lên đòng. Dã man hơn, chúng ném bom phá hoại các đập nước Thác Huống, Bái Thượng, Phong Lạc, Bàn Thạch, Đô Lương làm cho trên 200.000 hécta ruộng đồng bị khô cạn. Trong năm 1951, chúng lập “vành đai trắng” ở nhiều vùng trung du và đồng bằng, rộng từ 5 đến 10 kilômét, biến hàng chục vạn héc ta đất canh tác màu mỡ thành những vùng đất hoang hóa.

Đồng bạc Việt Nam bị đánh phá bằng rất nhiều thủ đoạn. Địch cấm dân chúng vùng tạm chiếm không được tiêu tiền “Cụ Hồ”. Từng thời gian chúng phao tin những đòng bạc lớn trên 200 đồng, 500 đồng của ta không còn giá trị sử dụng, tạo nên những cơn sốt tiền 100 đồng giả tạo. Thủ đoạn chủ yếu của chúng để phá giá đồng bạc của ta là dùng tiền giả. Riêng một lần đổ bộ vào Phú Yên, chúng đá tung ra thị trường vùng tự do 800.000 tờ bạc giả. Tại Khu 8 và Khu 9 Nam Bộ, ta đã thu tới 100.000.000 bạc giả! Chúng in tiền giả dễ dàng trong khi việc in tiền của ta giữa thời chiến gặp nhiều khó khăn. Những cơ sở chế tạo giấy, cơ sở in thường xuyên phải di chuyển để tránh máy bay địch đánh phá. Tiền in ra thường không kịp để chi phí cho các chiến dịch, kể cả phát sinh hoạt phí cho cán bộ và công nhân viên. Sự thiếu thốn về lương thực cùng với những thủ đoạn phá giá đồng bạc Việt Nam khiến cho đồng tiền của ta trong những năm 1950, 1951 mất giá rất nhanh. Tại Thái Nguyên, gạo lên tới 45 đồng 1 kilôgam, trong khi sinh hoạt phái của bộ đội là 180 đồng, cộng với 5 đồng tiêu vặt! Nhiều khi có tiền cũng không mua được gạo và muối, đặc biệt là muối. Như những năm trước, chúng ta lại phải khuyến khích cán bộ, chiến sĩ, đồng bào từ miền xuôi lên Việt Bắc mang theo mỗi người từ 2 đến 3 kilôgam muối.

Tình hình này ảnh hưởng trực tiếp đến sức chiến đấu của bộ đội. Trong báo cáo trình bày tại Đại hội Đảng lần thứ II, tôi đã đề nghị: “Cần phải kiên quyết cải tiến việc nuôi dưỡng thích hợp với nhu cầu quân đội và khả năng đảm phụ của nhân dân”.

Những giải pháp Đảng ta đề ra trước đây, từ “Tuần lễ vàng”, “Ngày Đồng tâm”, “Mùa đông binh sĩ”, “Đảm phụ quốc phòng”, “Hũ gạo nuôi quân”, cho tới việc phát hành “Công phiếu kháng chiến”, lập “Quỹ công lương”, đánh “thuế điền thổ”… mặc dù được nhân dân hưởng ứng, nay đã không còn thích hợp. Cách thu thuế bằng tiền tính theo giá thóc, cũng như mua thóc bằng tiền trong tình hình tỉ giá đồng tiền của ta luôn thay đổi khiến cho nông dân thường bị thiệt thòi. Đại hội Đảng lần II đề ra là trên cơ sở bồi dưỡng sức dân, cần có những chính sách phù hợp công bằng và lâu dài để huy động sức người, sức của nhằm đáp ứng nhu cầy ngày càng lớn của kháng chiến.

Từ khi đồng bạc Việt Nam mất ổn định, đã có ý kiến đề ra trong Hội đồng Chính phủ nên thu thuế bằng thóc, nhưng thấy có nhiều khó khăn: trái với tập quán của nhân dân, phải lập kho, và phải biết cách bảo quản thóc lúa thu về… Các cố vấn Trung Quốc đã giúp chúng ta những kinh nghiệm phong phú qua việc thu thuế nông nghiệp bằng thóc đã được thực hiện ở nước bạn.

Ngày 15 tháng 7 năm 1951, Chính phủ ban hành sắc lệnh Điều lệ thuế nông nghiệp thu bằng thóc nhằm thống nhất cách thu thế trên cả nước, đơn giản hóa chế độ đảm phụ của nhân dân, và bảo đảm công bằng. Thuế nông nghiệp được đề ra theo nguyên tắc bảo đảm cung cấp cho nhu cầu kháng chiến phù hợp với khả năng đóng góp của mỗi tầng lớp nhân dân ở nông thôn, khuyến khích phát triển nông nghiệp. Mức thuế khởi điểm là 65 kilôgam trên một mẫu. Mức thuế của bần nông, trung nông giảm nhẹ hơn so với năm 1950. Các thứ thế công lương, điền thuế, thuế gia tăng, việc thu thóc theo địch giá… trước đây đều bãi bỏ.

Cùng với việc ban hành sắc lệnh thuế nông nghiệp, Chính phủ còn ra những quy định cụ thể về thống nhất thu chi, cân bằng ngân sách, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô. Sở Kho thóc, sở Mậu dịch, hệ thống ngân hàng và cơ quan thế vụ được thành lập. Sở Kho thóc và sở Mậu dịch là hai ngành có liên quan mật thiết với hậu cần quân đội, nhằm đảm bảo những nhu cầu về lương thực và sinh hoạt tối thiểu cho bộ đội.

Bác đặc biệt quan tâm tới việc ban hành sắc lệnh thuế nông nghiệp. Bác trực tiếp đi tìm hiểu tình hình, lắng nghe ý kiến dân chúng. Trước khi ban hành sắc lệnh ba tháng, nhiều đoàn cán bộ chính phủ được phái đi các Liên khu Việt Bắc, 3, 4 vận động nhân dân cho Chính phủ vay tạm thuế nông nghiệp vụ chiêm theo dự thảo đã được Hội đồng Chính phủ thông qua đầu tháng 5 năm 1951. Đây cũng là cách thăm dò phản ứng của nhân dân đối với chính sách thuế mới. Kết quả ngoài dự đoán. Đồng bào các nới đều hoan nghênh thuế nông nghiệp. Số thóc thu được vượt gấp đôi dự tính ban đầu. Dự tính của ta quá thấp. Một phần, do chúng ta đã dựa trên nhưng con số cũ chính quyền thực dân để lại. Một phần, do chúng ta chưa đánh giá đúng tình hình phát triển của nông nghiệp qua năm năm kháng chiến. Người dân Việt Nam đã thực sự tự túc về lương thực. Sau khi thực hiện vây thuế nông nghiệp vụ chiêm, anh Lê Văn Hiến, Bộ trưởng Bộ Tài chính, vui mừng nói trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ: “Riêng số thóc tạm vay ở Việt Bắc đủ cho quân đội ăn tới ngày mùa!”.

Không khí nông dân nổ nức đóng thuế nông nghiệp được phản ánh trong một bài hát lúc đó (nhạc của Lê Lôi, lời của Huyền Tâm):

“Lúa tháng Năm kén tằm vàng óng
Hạt khô giòn đem đóng thuế nông
Lúa nhiều anh gánh em gồng
Kiũ kà kiũ kịt qua sông qua đò
Lúa nhiều chiến thắng càng to
Đồn Tây càng đổ, câu hò càng vang…”

Từ cuối năm 1951, thuế nông nghiệp trở thành nguồn thuế chính của ngân sách nhà nước trong kháng chiến, bảo đảm cho bộ đội những nhu cầu chính về lương thực.

Cũng trong năm1951, Chính phủ ta ban hành chính sách thuế công thương nghiệp, và phát hành tờ giấy bạc “Ngân hàng Việt Nam” thay thế dần đồng bạc Ngân khố quốc gia phát hành trước đây. Ngân hàng Việt Nam ra đời là sự tiếp cận những nguyên tắc chính quy về tiền tệ và tài chính của một quốc gia. Anh Nguyễn Lương Bằng được cử làm Giám đốc Ngân hàng Quốc gia. Tờ bạc mới của ta in ở Trung Quốc khá đẹp, được phát hành từ đầu tháng 6 năm 1951. Ai cầm tờ bạc mới cũng thấy phấn khởi.
...

Post Reply

Return to “Tài liệu tham khảo”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest