Sự tích COCHINCHINE ?

Các tài liệu phục vụ cho việc sưu tầm
Post Reply
User avatar
DungDang
Posts: 362
Joined: Fri 28 Jul, 2006 5:40 am
Location: Gia Ðịnh

Sự tích COCHINCHINE ?

Post by DungDang » Fri 17 Apr, 2009 3:03 am

Tôi tình cờ mua được quyển CHUYỆN NỘI CUNG 9 ÐỜI CHÚA NGUYỄN
có viết về Công nữ Ngọc Vạn con gái Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên về làm dâu nước Chân Lạp.
Khi Vua Prea Chey Chetta II chết, bà bị ngược đãi nên quay về vùng Prey Nokor lập nghiệp.
Ðược Chúa Sãi giúp đỡ, uy tín cô Chín (bà Ngọc Vạn) vang lừng trời Nam lúc bấy giờ.
Người ngoại quốc đến làm ăn thường gọi là Cô Chín Chine (cô 9 tàu)
lâu dần người ta gọi vùng đất này là COCHINCHINE.
Mời các bác tham khảo.
Kính
Image
Sự phùng như ý nghi hưu tức.
Phú quý trường trung dị bạch đầu.
dungdang

User avatar
9PN
Posts: 4035
Joined: Wed 16 Aug, 2006 12:27 am
Location: California

Re: Sự tích COCHINCHINE ?

Post by 9PN » Sat 18 Apr, 2009 12:05 am

DungDang wrote:Tôi tình cờ mua được quyển CHUYỆN NỘI CUNG 9 ÐỜI CHÚA NGUYỄN
có viết về Công nữ Ngọc Vạn con gái Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên về làm dâu nước Chân Lạp.
Khi Vua Prea Chey Chetta II chết, bà bị ngược đãi nên quay về vùng Prey Nokor lập nghiệp.
Ðược Chúa Sãi giúp đỡ, uy tín cô Chín (bà Ngọc Vạn) vang lừng trời Nam lúc bấy giờ.
Người ngoại quốc đến làm ăn thường gọi là Cô Chín Chine (cô 9 tàu)
lâu dần người ta gọi vùng đất này là COCHINCHINE.
Mời các bác tham khảo.
Kính
Image

Hú Hồn....



Nếu 9PN sống thời đó mà vang tiếng như rứa thì không chừng Tây gọi:


OnChinChine == Ôn-Chín-Chine == Ôn Chín Tàu....
Image Image ImageImage Image Image

Bài này hay quá. Bác đăng thêm phần "Công nữ Ngọc Vạn" nữa được không?


.

viet-numis
Site Admin
Posts: 1345
Joined: Mon 17 Apr, 2006 2:44 pm

Post by viet-numis » Sun 19 Apr, 2009 8:21 pm

Trong cuốn "Đại nam hóa tệ đồ lục" của Albert Schroeder, ngay trang đầu tiên, phần chú thích đã có 3 cách giải thích, mời các bác tham khảo

1) Người Bồ Đào Nha nghe thấy gọi triều đình xứ này "Kẻ chợ" kèm theo hình dạng người bản xứ có nhiều điểm giống người Trung Quốc (Chine). "Kẻ chợ" + Chine biến âm đi thành Cochinchine. (Theo sách in tại Lisbone, 1700)

2) Biến âm của từ "Giao châu" + Chine/Chin. Chine/Chin ở đây là cách người Hindu gọi vùng này.

3) Những người Châu Âu lần đầu tiên nghe thấy một hoa tiêu Trung Quốc gọi vùng này là Cổ Chiêm Thành (Kòu tchén tch'êng) -> Cochinchine (sách nước Annam,1878 Paris)

[fullalbumimg]628[/fullalbumimg][fullalbumimg]629[/fullalbumimg]

User avatar
DungDang
Posts: 362
Joined: Fri 28 Jul, 2006 5:40 am
Location: Gia Ðịnh

Post by DungDang » Mon 15 Jun, 2009 6:58 pm

SỰ TÍCH COCHINCHINE
(hay chuyện bà Ngọc Vạn làm Hoàng hậu nước Chân Lạp)

Mùa hè năm 1613 chúa Tiên băng, Nguyễn Phúc Nguyên lên thay. Ông được dân chúng xưng yụng là Sài Vương.
Sãi Vương lên ngôi ở cái tuổi 50 và ông đã trải qua hơn 10 năm là trấn thủ Quảng Nam. Sãi vương nhân hậu, tài cao, đức trọng, có ý chí nên trước khi mất chúa Tiên đã trăn trối giao nhiệm vụ cho ông: “Đất Thuận Quảng này phía Bắc có núi Hoàng Sơn,Sông Linh Giang, phía Nam có các núi Hải Vân, thật là nơi trời để cho người anh hùng dựng võ. Vậy con phải thương yêu nhân dân, luyện tập quân sĩ để gây dựng cơ nghiệp muôn đời”
Từ khi lên ngôi Sãi Vương ngày đêm lo nghĩ để tìm biện pháp thực hiện thánh ý của cha già “xây dựng cơ nghiệp muôn đời” ở phía nam Hoành Sơn. Ông trọng dụng tướng tá, diễn tập voi ngựa, sửa đắp thành lũy, sai con trưởng là Nguyễn Phước Kỳ vào trấn thủ Quảng Nam tiếp tục giao thiệp với người nước ngoài. Công việc đang tiến hành tốt đẹp, không ngờ đến vào khoảng năm 1620,hai em ông là quận Văn,quận Hữu vì quuyền lợi riêng mà đã tố giác ý đồ dựng nghiệp mở miền Nam của ông với quân Trịnh ở Bắc Hà. Nếu không ngăn chặn được từ đầu sự nghiệp đã tan thành mây khói. Ông không bị hại không những vì quyền lực mà còn vì uy tín của ông. Hơn mươi năm trấn thủ Quảng Nam,qua thương nhân đến buôn bán ở Hội An, tài năng và đức độ của ông đã tỏa lan ra các nước gần như Chiêm Thành, Chân Lạp, Xiêm La, các nước xa như Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha…
Sau khi Nguyễn Hoàng đặt được nền hành chính chặt chẽ ở Phú Yên,nước Chiêm Thành chỉ còn một lãnh thổ nhỏ hẹp ứng với đất ba tỉnh Khánh Hòa, Phan Rang, Phan Thiết sau nầy. Nước Chân Lạp tuy to lớn, màu mỡ nhưng người thưa, luôn bị quân Xiêm La xâm lấn, bắc thần phục triều cống, vua quan, quân dân uất hận vô cùng.Năm 1618, vua sanyopo(soryopory) của Chân Lap vì quá lệ thuộc Xiêm La nên bị triều thần bắt thoái vị, nhường ngôi cho con là Prea Chey Chetta II. Muốn cho triều đình được vững chắc, vị tân vương liền cử em là Prea Outney lên làm phó vương và tiềm cách liên lạc với Sãi Vương ở niềm nam nước Việt để được yểm trợ lập thế chống quân Xiêm. Prea Chey Chetta II sùng mộ Đạo Phật, nghe tiếng Sãi Vương có Phật tính, ông hết sức ngưỡng mộ.Qua những người Việt đến làm ăn buôn bán ở Chân Lạp, thấy người việt lanh lợi,trắng trẻo, đẹp, vua Chân Lạp nghĩ dân dã mà như thế chắc con, vua cháu chúa chắc là đẹp lắm. Mướn được tin cẩn vua Chân Lạp cho người ngỏ ý với Việt, ông muốn làm rể Sãi Vương. Lời ngỏ đến đúng lúc Sãi Vương đang lo ổn định ở phía nam để đối phó với phía bắc. Cơ hội thật đáng giá nghìn vàng.
Vào một buổi sáng mùa hạ êm đềm, Ngọc Vạn bái lạy tổ tiên, cha mẹ rồi cùng với đoàn tùy tùng bước xuống chiếc thuyền phụng đã chờ sẵn bên dòng Thạch Hãn.Chiếc thuyền xuôi ra cửa Việt bắt đầu cuộc nghìn dặm về Chân Lạp. Phải xa cha mẹ,xa anh chị em để đi làm dâu xứ người,Ngọc vạn đau đớn vô cùng.Nhưng để giấc mộng lớn của cha có thể thành sự thật, bà vẫn cắn răng ra đi. Mỗi lần quá đau đớn nước mắt giàn giụa, bà lại được các vị quan già đi theo an ủi bằng cách nhắc đến mảnh đất Thuận Hóa và gia đình họ Nguyễn. Đúng như thế. Trước thời bà hơn ba thế kỷ, công chúa Huyền Trân của nhà Trần đã dứt tình với Trần Khắc Chung để về Chiêm Quốc đổi lấy hai châu Ô Lý. Chính nhờ sự hi sinh đó mà nội tổ của bà Nguyễn Hoàng mới có được chỗ đứng để tính chuyện “vạn lợi dung thân”.Và khômg đâu xa,bà cô ruột của bà là Ngọc Bảo đã từng phải cắn răng ở với Trịnh Kiểm – một địch thủ của nội tổ bà để cho nội tổ thoát được vào Thuận Hóa xây dựng nghiệp lớn.
Tin Công nữ Ngọc Vạn sẽ về làm dâu Chân Lạp qua đến Kinh thành Oudong, vua Prea Chey Chetta II mừng vui khôn xiết. Ông cho xây dựng gấp một cung điện mới để đón Công nữ Ngọc Vạn về và được ở riêng. Khi chiếc thuyền phụng đi vào đất Chân Lạp, phó vương Prea Outney đã giúp anh tổ chức một buổi rướt dâu theo quốc lễ rất linh đình. Ngọc Vạn rời thuyền phụng khép nép bước lên kiệu với tám người khiêng. Thần dân của Prea Chey Chetta II sắp hai bên đường đón kiệu bà đi qua. Những vòng hoa sứ, hoa vạn thọ, hoa sen tung lên không ngớt. Khi kiệu đến gần Vương cung, đặt chân lên con đường trải chiếu hoa, các quan văn võ vận triều phục rực rỡ, các hoàng thân áo mũ dát vàng,các nàng cung nữ Xiêm y lóng lánh, tóc bối cao và cài hoa sứ thơm ngát ra rướt bà.
Kiệu bà đến sân điện ngọc, hai cô cung nữ Chân Lạp tiến đến diều bà xuống kiệu và đưa vào hoàng cung. Vua Prea chey chetta II tuổi chừng ba sáu, dung mạo uy nghi trong chiếc hoàng bào, mắt to, chiếc mũ cao rộng chụp lên mái tóc quăn, vai rộng, da màu nâu sậm, đang ngự trên ngai vàng chờ bà. Ngước mắt lên nhìn nhà vua bà bàng hoàng. Nhà vua nở một nụ cười chào bà để lộ hàm răng trắng tươi. Bà cuối đầu,đi về phía nhà vua giữa tiếng tung hlô vang dội. Vua Prea Chey chetta II bước xuống chắp tay vái chào người đẹp theo lễ nghi của Chân Lạp. Lễ đón Công nữ Ngọc vạn kết thúc. Từ ấy Ngọc Vạn đã hoàn toàn thuộc về Prea Chey Chetta II.
Thông minh vốn sẵn tính trời chỉ một thời gian ngắn, Ngọc Vạn biết nói tiếng Khơ-me, biết viết chữ Pali, biết mặt xa-rông, xiêm y ngũ sắc, xức dầu thơm, bối tóc cao lên đỉnh đầu và cài một bông hoa trắng. Mỗi khi ngọc vạn rời hoàng cung đi lễ chùa, thần dân lại chấp tay vái tay chào ra chiều quyến luyến. Vua Prea Chey Chetta II mặc dù đã có vợ người Chân Lạp, người Lào, đã có con với các bà ấy nhưng khi gần bên Ngọc Vạn ông say đắm như lần đầu tiên được yêu. Ngọc Vạn mong muốn điều gì đều được toại nguyện.
Để làm vui lòng Ngọc Vạn, vua Chân Lạp lập nhiều người Việt làm quan văn võ trong triều đình Oudong. Ngọc Vạn khéo tâu xin cho quân việt vào sinh cơ nlâp5 nghiệp ở vùng Đồng Nai Mô Xoài (biên Hòa, Bà Rịa ngày nay). Người Việt mở cơ xưởng công nghệ, đóng tàu thuyền cho vua Chân Lạp phòng thủ chống quân Xiêm. Càng ngày vua Chân Lạp càng thấy người Việt hiền hòa, chăm chỉ có ích cho dân Chân Lạp. Nhờ có bà hoàng hậu nước Việt mà thanh thế của nhà vua thêm phần vững chắc.
Hạnh phúc đang tràn trề, vua Prea Chey Chetta II đang khỏe mạnh, đang được thần dân và triều đình yêu mến. Thi bất thần vào năm 1625, nhà vua nhiễm bệnh và băng hà. Tính ra mới được 5 năm hương lửa, mới có với Prea chey Chetta II hai hoàng nam. Nỗi buồn xa sứ chưa dứt không ngờ số phận góa bụa lại đến với bà quá sớm. Ôi đâu đớn biết dường nào.
Phó vương Prea Outey – người đã giúp vua Prea Chey Chetta II tổ chức quốc lễ đón Ngọc vạn về Chân Lập, được giao trọng trách cột trụ của triều đình. Prea Outey biết chị dâu đau khổ quạnh hiu nên đã hết lòng giúp đỡ, tiếp tục chính sách thân việt bài Xiêm. Nhờ thế mà ngọc vạn an ủi được phần nào.
Cầm hết quyền hành trong tay, không rõ vì sao Prea Outey không lập một trong những hoàng tử con của vua Prea chey Chetta II lên làm vua mà lại cho hai người em họ là pona To (1625-1630) và pona Nu (1630-1640) lần lượt lên ngôi. Viện lý do bà Vạn Ngọc đạo đức nghiêm minh hơn cả được xếp làm hoàng thái hậu, đứng trên vị trí của hai bà Khmer và Lào. Mặc dù được em chồng che chở nhưng hoàng thái hậu Ngọc Vạn không chủ quan. Bà có uy tín, được những người mến mộ đạo Phật và sư sãi sùng kính, được các quan theo xu hướng bài Xiêm thân Việt trọng vọng. Đó là những thuận lợi cho bà đồng thời đó cũng là một thực tế để cho những người thân Xiêm bài Việt ghét bà. Thế lự này đang mạnh dần lên trong triều. Để tránh sự nghi kỵ bà tỏ ra khong thiết tha với cuộc sống vương giả phú quý. Lấy cớ vì quá thương nhớ chồng, bà xin triều đình cho đem 2 con trai ra ngàoi lập chùa để hàng ngày tụng kinh cầu an cho hoàng gia và vương quốc Chân Lạp. Yêu cầu của bà được triều đình vui vẻ chấp nhận. Nhờ thế mẹ con bà đã thoát được các cuộc tranh chấp quyền lực diễn ra liên tiếp trong triều đình Chân Lạp sau đó.
Năm 1630, vua Pona Nu chết không rõ nguyên nhân. Phó Vương Prea Outey liền cho con trai mình lên ngôi vua, việc triều chính rối loạn. Các con của vua Prea Chey Chetta II đã lớn và ai cũng thấy ngai vàng chân Lạp là của mình. Hoàng tử Rama Thuippday Dhipati Chan, con trai bà vợ Lào của Prea Chey Chetta II được người lào hợp tác giết chết cả hai cha con Prea Outey đoạt ngôi. Rama Chan củng cố ngai vàng bằng cách thay thế các quan chức triều đình (chủ yếu là thay người Việt), dựa vào đội hải quân Mã Lai và bộ binh Lào để giữ thế quân bình Việt – Xiêm. Hoàng thái hậu Ngọc vạn lâm vào thế khó khăn, hai con trai bà nay đã trưởng thành, trở thành đối thủ của Rama Chan (Nặc ông Chân). Rama Chan bực bội, tỏ ý chống mẹ con bà Ngọc Vạn. Bà nhận thấy mẹ con bà ở gần Hoàng cung sẽ gây ra mối sợ hãi tranh ngôi vua và không sớm muộn gì họ sẽ thanh toán mẹ con bà. Bà xinvua cho bà đem con qua vùng Mô xoài – Đồng Nai lập ấp làm ăn. Thật may mắn là nguêỵn vọng của bà được chấp nhận, giống như ngày xưa Trịnh Kiểm đã cho Nguyễn Hoàng vào đất Thuận Hóa vậy. Mẹ con bà Ngọc vạn kín đáo rời Kinh thành Oudong, thật khác với cảnh đón rước linh đình khi bà về làm hoàng hậu vua Prea Chey Chetta II.
Đến đất Đồng Nai (vùng đất hoang dã đang được dân Việt – Chiêm – Chân Lạp khai khẩn) vào năm 1646, bà được dân chúng hết lòng ngưỡng mộ. Lần đầu tiên họ được thấy một nữ sư tuổi chừng 40 đẹp như một vị Phật Bà. Mẹ con bà cùng với một số gia nhân ít ỏi dừng chân lập chùa ở vùng Prey Nokor (Sài Gòn và Chợ Lớn ngày nay). Đám di dân buôn bán, khai khẩn vùng này ùn ùn kéo đến chùa chiêm ngưỡng dung nhan Phật Bà, để xin bà ban phúc và sung sướng gặp một vị tiên giáng trần. Bà Ngọc Vạn đối xử với mọi người một cách thân tình. Bà từ chối mọi lời tôn vinh với những điều phật dạy. Hai hoàng tử Batom Reachea Potouna Raja và Ang Non (Nặc Ông Nộn), nay đã trưởng thành, hiên ngang tuấn tú. Với dòng máu của hai hoàng tộc Việt - Chân Lạp, dù lễ nghi cung cách có khiêm tốn đến đâu, hai ông cũng nổi bậc khác người dân dã. Vì thế hai ông được các sắc tộc ở đây xem như ban trưởng, chúa tể vùng Đồng Nai Mô Xoài. Có việc gì khó khăn họ đều đến chùa Cô Chín (tên dân gian của bà Hoàng Thái Hậu Ngọc Vạn) hay đến ấp hai ông hoàng để xin chỉ dạy, phân giải.
Từ đó người Việt, người Chiêm, người Khmer và thêm một số người Tàu đều gọi bà Ngọc Vạn với cái tên hết sức thân mật cô Chín. Nhờ thế bà và hai hoàng tử sống thỏai mái, vừa tu hành vừa khai khẩn lập nghiệp, cơ đồ ngày càng vững chắc. Chẳng bao lâu sau vùng Prey Nokor trở nên tấp nập trù phú. Cô chín khuyến khích dân trồng tiêu, trồng lúa, trồng dâu nuôi tằm ươm tơ theo kỹ thuật Việt. Người Tàu Minh Hương giúp cho dân Prey Konor buôn bán với nước ngoài. Người nước Ngoài như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp Lang Sa đến truyền đạo và buôn bán. Qua người Tàu Minh Hương họ biết danh cô Chín. Thấy cô Chín vừa thông thạo hai tiếng Việt Khmer, biết chữ Hán, giỏi Kinh Kệ của hai tôn phái Đại thừa và Tiểu thừa. Bà là một quý nhân ở vùng đất mới Prey Konor. Người ngoại quốc cũng sinh lòng mến mộ bà. Họ gọi bà là”Cô Chín Chine “ (Cô Chín Tàu). Về sau người Phương Tây qua buôn bán gọi vùng Thủy Chân Lạp là vùng Cô Chín Chine. Có lẽ tên Cochin-Chine sau này đã có nguồn gốc từ “Cô Chín Chine” chăng ?
Trong lúc vùng Thủy Chân Lạp dưới sự chỉ dẫn của mẹ con Cô chín đã trở nên một vùng thịnh vượng an lạc thì ở Lục Chân Lạp , Quốc Vương Rama Chan (Nặc Ông Chân) đang làm đủ mọi cách để củng cố địa vị của mình. Hoàng thân quốc thích nào ông không vừa ý ông đều đều bị đối xử một cách tàn nhẫn. Phản ứng lại chính sách cường bạo ấy, các hoàng thân liên kết lại với nhau tìm cách lật đổ Rama Chan. Mưu kế thất bại một số người phải chạy thoát ra Đồng Nai Mô Xoài nương tựa vào mẹ con Cô Chín.
Lúc nầy bà Ngọc Vạn đã ngoài tuổi năm mươi nhưng vẫn còn đẹp cốt cách vững vàng, đầu óc sáng suốt. Biết Rama Chan không để các hoàng thân chống đối ông ta ở yên tại Thủy Chân Lạp, bà khuyên đám hoàng tộc chống đối yêu cầu sự giúp đỡ của chúa Nguyễn. Lời đề nghị của bà đúng với suy nghĩ của các hoàng thân. Các hoàng thân nhờ bà giúp đỡ để liên lạc với chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần.
Nhận được lời cầu viện, với sự ủng hộ của bà con ruột thịt của mình, chúa Hiền từ Thủ Phủ Kim Long liền sai phó tướng Nguyễn Phước Yên đang trấn thủ vùng Phú Yên mang ba ngàn quân vào Đồng Nai- Mô Xoài che chở cho đám hoàng tộc Khmer đang bị đe dọa tính mạng. Rama Chan tức giận liền xua quân xuống đánh Thủy Chân Lạp. Mới vào trận Rama Chan đã bị bắt sống và đem ra giam tại Quảng Bình. Sau đó Rama Chan xin chúa Hiền tha và hứa sẽ triều cống, sẽ giúp đỡ cho người Việt sang làm ăn ở Thủy Chân Lạp và nhất là giúp đỡ cho ba mẹ con bà Hoàng Thái Hậu Ngọc Vạn.
Năm 1660, Rama Chan qua đời, với sự đồng ý của chúa Hiền, hoàng tử con trai bà Ngọc Vạn Batom Reachea được đưa lên ngôi. Bà Ngọc Vạn qiúp cho con trai củng cố ngai vàng. Người Việt được mời lại làm quan. Người Tàu Minh Hương được tự do buôn bán. Kiệu bà Ngọc Vạn đi đến đâu đều được đón rước như Phật sống. Hoàng tử thứ hai là Ang Non được vua anh ban cho nhiều quyền hành ở Đồng Nai Mô Xoài. Trông thấy người Việt ngày càng có thế lực ở Chân Lạp, người Lào và người Xiêm rất bực tức. Năm 1672 một biến cố xảy ra, vua Batom Reachea bị hành thích. Con trai ông là Ang Chey (Nặc Ông Đài) giết được thích khách rồi lên ngôi vua. Người Xiêm xúi giục tân vương tách rời khỏi ảnh hưởng người Việt để lập lại thế quân bình Chiêm Việt. Ang Chey mù quáng trước quyền lực dựa thế quân Chiêm làm áp lực ngay với chú ruột của mình là Ang Non (Nặc Ông Nộn). Lúc đầu Ang Chey rút bớt quyền hành và tăng sưu thuế ở vùng Đồng Nai Mô Xoài. Về sau Ang Chey xua quân xuống Thủy Chân Lạp đánh đuổi chú Ang Non, lập đồn lũy kềm kẹp dân địa phương. Dân chúng không chịu nổi nổi lên chống Ang Chey và yêu cầu chúa Hiền đưa quân vào cứu giúp.
Không nỡ để cháu ngoại của ông nội mình bị ức hiếp, không thể để Ang Chey dự thế quân Xiêm tung hoành trên mảnh đất cô mình đã dày công khai khẩn. Chúa Hiền cử Dương Lâm Hầu đưa quân vào đánh chiếm Đồng nai – Mô xoài, đặc biệt là vùng Prey Nokor. Không dừng ở đó, quân của Chúa Hiền tiến ngược lên vùng Lục Chân lạp vào thành Oudong hỏi tội Ang Chey. Ang Chey chạy trốn vào rừng và bị thuộc hạ giết chết vào năm 1674. Để vừa lòng người Chân lạp, Chúa Hiền cho Ang Saur (Nặc ông Thu) – em của Ang Chey làm Chính Vương đóng đô ở Oudong và phục hồi cương vị lãnh chúa của Ang Non (Nặc ông Nộn) lên Phó Vương đóng đô ở vùng Prey Nokor (Sài Gòn – Chợ Lớn). Như vậy, cháu nội bà Ngọc Vạn làm vua ở Oudong – Lục Chân Lạp, con trai thứ của bà làm Phó vương ở Prey Nokor – Thủy Chân Lạp. Lúc bấy giờ có lẽ bà Ngọc Vạn đã qua đới (1674).
Nhờ có bà Ngọc Vạn mà người Việt được vào sinh cơ lập nghiệp ở vùng Thủy Chân Lạp đặt nền móng cho cuộc kinh dinh vùng Sài Gòn – Chợ Lớn sau này của người Việt (1698).
Công ơn to lớn của Công nữ Ngọc Vạn đối vối dân tộc chưa thấy sử sách Việt Nam nói đến. Nhưng nhờ tài liệu, bia ký của Campuchia và những ghi chép của người Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Pháp…ta mới biết được công lao của bà. Hy vọng ngày sau, Tp. Hồ Chí Minh có con đường mang tên Ngọc Vạn bên đường Hiền Vương, những người đã có công tạo lập nên hòn ngọc viễn đông này.
Theo nghiên cứu của Thái Văn Kiểm – tác giả Đất Việt trời Nam thì Chúa Sãi đã gả hoàng nữ Ngọc Vạn cho vua Campot – Chei Chetta II và gả hoàng nữ Ngọc Khoa cho vua Chiêm Thành – Po Romé. Hai ông vua này làm phò mã nước Nam chắc chắn họ không dám có hành động làm phật lòng nước Nam.
Chúa Sãi vì nước mà phải đem con cái khúc ruốt của mình ra đổi lấy hòa bình, đó là những việc làm quang minh chính đại nhưng sao Chúa không công bố và sử sách của nhà Nguyễn cũng không đề cập đến ?
Ông Thái Văn Kiểm giải thích thế này : “…sở dĩ sử sách đã lơ việc này là vì bài học của Huyền Trân công chúa. Dân ta hồi nào vẫn còn “tự tôn mặc cảm” đối với các dân tộc thấp kém (!); việc cưới gả công chúa cho Chiêm, Miên chẳng qua là buốc-kế (chic) chứ không cho đó là một vinh dự, lại còn sợ đám sĩ phu và dân chúng làm thơ chế diễu như Huyền Trân thuở nào”.
Để ca ngợi sự nghiệp, công lao của hai bà Ngọc Vạn và Ngọc Khoa. Tân Việt Điểu và An nam Trần Tuấn Khải có làm 2 bài thơ ca ngợi.


Trích đăng từ sách : HOÀNG HẬU VƯƠNG PHI CÔNG CHÚA TRIỀU NGUYỄN
CHUYỆN NỘI CUNG CHÍN ĐỜI CHÚA.
Nhà xuất bản Thuận Hóa – Huế năm 2002 của tác giả Nguyễn Đắc Xuân.

Post Reply

Return to “Tài liệu tham khảo”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest