Nguyễn Hữu Hanh - Làm việc với các nhân vật danh tiếng thế giới

Các tài liệu phục vụ cho việc sưu tầm
viet-numis
Site Admin
Posts: 1345
Joined: Mon 17 Apr, 2006 2:44 pm

Post by viet-numis » Tue 30 Dec, 2008 12:48 am

VIII. Sự nghiệp quốc tế thứ ba

Khi tôi trở lại Washington vào tháng 4/1975, tôi vẫn phân vân lưỡng lự giữa hai khả năng: hoặc quay lại World Bank làm việc với Bill Diamond, hoặc về IMF với Ian Mladeck, người đã đề nghị tôi gia nhập Sở Ngân hàng Trung ương (CBS) làm việc với ông, sau khi tôi rời chức vụ trong hội đồng quản trị. Tôi chọn công việc thứ hai; tôi được mời giữ chức vụ Cố vấn, thích hợp với kiến thức chuyên môn và nguyện vọng của tôi hơn. Tôi bắt đầu vào CBS tháng 5/1975; công việc của tôi là hỗ trợ kỹ thuật cho những quốc gia đang phát triển trong lãnh vực ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương; công việc rất thú vị và tôi rất thích việc mình đang làm. Nhưng không bao lâu tôi khám phá ra là IMF còn thiên về chính trị nhiều hơn cả World Bank, và chính trị đóng một vai trò rất lớn trong các quyết định của họ. Tôi rất ngạc nhiên khi biết rằng kinh nghiệm chuyên môn và sự thạo nghề không phải là những khía cạnh quan trọng nhất của một sự nghiệp đối với các nhân viên IMF; rằng người ta cần phải chú ý tới những chuyện chính trị, những trò tranh giành quyền lực, những mưu mô và những mối liên hệ quốc gia hay “bộ tộc”, hơn là thông hiểu kỹ thuật và có tài trong nghề nghiệp. Những nhân viên trong ban điều hành sở tôi đều có những bằng cấp cao, danh giá lớn, gây ấn tượng rất lớn đối với các chính phủ hội viên, nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực tiễn hoặc kiến thức về ngân hàng tại các nước đang phát triển. Chỉ có hai người trong họ là xuất thân từ các lãnh vực thực hành và nghiệp vụ ngành Ngân hàng Trung ương, nơi họ làm việc trước khi gia nhập vào Sở Ngân hàng Trung ương ở IMF. Phần lớn những người khác chỉ có kinh nghiệm hành chánh hay chính trị trong những cơ quan cũ của họ trước kia. Và không có một ai được đào tạo về ngân hàng thương mại, chỉ một mình tôi là người có kinh nghiệm lâu năm, hoạt động trong các Ngân hàng Trung ương, ngân hàng thương mại và Ngân hàng Khuếch trương Kỹ nghệ. Vì vậy mà công việc trợ giúp kỹ thuật thật sự phải dựa vào các “chuyên viên” mà họ tuyển mộ và gởi tới các nước đang phát triển cần giúp đỡ kỹ thuật; trong lúc đó các nhân viên cao cấp thì ở lại trung ương để lo về phương diện hành chánh của chương trình như tuyển mộ chuyên viên, thương thuyết về thời hạn và điều kiện bổ nhiệm, liên lạc với chính quyền các nước nhận viện trợ, tổ chức phái đoàn thăm viếng v.v… Vì vậy bất cứ khi nào họ nhận được một công tác hỗ trợ kỹ thuật hay nghiên cứu một vấn đề kỹ thuật ngân hàng theo lời yêu cầu của một nước thành viên, họ rất lo lắng, nhất là những người chỉ có kinh nghiệm hành chánh.

Những văn kiện họ viết cho chính phủ các nước thành viên phần nhiều chỉ đề cập các khía cạnh lý thuyết và ít khi nói tới khía cạnh kỹ thuật và thực hành của vấn đề. Cơ quan CBS có một phòng nghiên cứu đầy kinh tế gia; những tài liệu họ đưa ra đều có chất lượng rất tốt nhưng lại không có ích lợi bao nhiêu cho các nước đang phát triển vì các tài liệu này hầu hết đều mang tính lý thuyết và chỉ đề cập tới những vấn đề ngân hàng của các nước đã phát triển hơn là của các nước đang phát triển. Vì vậy mà các nước thành viên IMF cần sự hỗ trợ kỹ thuật, không được giúp đỡ một cách cụ thể bao nhiêu. Việc thiếu kinh nghiệm thực hành và sự kém hiểu biết những vấn đề ở các nước đang phát triển, đôi khi đã làm cho những nhân viên cao cấp phạm những sự sai lầm buồn cười. Những lời đề nghị hoặc khuyến cáo của họ dĩ nhiên là rất tinh tế, rất lý thuyết, nhưng hoàn toàn không áp dụng được trong các điều kiện của những quốc gia họ muốn giúp đỡ. Ví dụ như một viên nhân viên cao cấp xuất thân từ Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ (Federal Reserve), có kinh nghiệm chủ yếu về ngành hành chánh, đã có một lần đề nghị một hệ thống máy vi tính để “xác định” người đến đổi tiền cũ ra tiền mới, trong một chương trình thay đổi tiền tệ của một Ngân hàng Trung ương (để tránh khách hàng đổi tiền nhiều lần) cho một nước vừa mới thoát khỏi cuộc nội chiến tàn khốc kéo dài và bị tàn phá nặng nề, với mọi tiện ích công cộng cũng như phương tiện giao thông đều bị phá huỷ - xứ Uganda. Đó là chưa nói tới việc không có nhân viên có tay nghề và các chuyên viên kỹ thuật được đào tạo hẳn hoi để vận hành và bảo quản những trang thiết bị tinh tế như vậy. Một vị cố vấn khác đã dựa trên hệ thống kiểm tiền tốc độ cao của Mỹ (với nhân viên kiểm ngân dùng máy đếm tiền tốc độ rất cao) để dùng tổ chức một chương trình hoán đổi tiền tệ cho một Ngân hàng Trung ương, nơi mà các kiểm ngân viên đều chỉ dùng tay để đếm. Một vị cố vấn thứ ba khi được giao nhiệm vụ tổ chức lại hệ thống kế toán dự trữ ngoại tệ đã đưa ra những lời khuyến cáo về thị trường hối đoái rất hay, nhưng lại không hề quan tâm đến việc kết hợp sổ sách ngân hàng với các trương mục ngoại tệ ở nước ngoài; kết quả là trong nhiều năm, ngay cả vị Thống đốc của Ngân hàng Trung ương và vị nguyên thủ quốc gia cũng không bao giờ dám chắc chắn rằng những tấm ngân phiếu tính bằng đô-la của họ viết ra có được các ngân hàng liên quan ở nước ngoài thanh toán hay không.

Không bao lâu tôi lại khám phá ra trong các hồ sơ của CBS có một tài liệu nghiên cứu về các điều luật Ngân hàng Trung ương được IMF soạn thảo cho một số nước thành viên, có chứa một sự lầm rất lớn; những nhân viên ban điều hành soạn thảo các điều luật này, đã đề nghị một cơ cấu hết sức phức tạp trong việc tái định giá dự trữ ngoại tệ bằng một công thức sai lầm; vừa mới nhìn qua tôi đã cảm thấy có một điều gì sai lầm trong công thức này và khi tôi áp dụng nó vào những trường hợp cụ thể được căn cứ trên các con số thống kê do IMF đã chánh tức thu thập ở nước đó, thì không những công thức này không thể dùng được, mà nó còn dẫn đến cái tình trạng mà công thức này được lập ra để tránh. Chín trong hai mươi mốt điều luật Ngân hàng Trung ương IMF đã soạn thảo cho các nước thành viên nằm trong chương trình hỗ trợ kỹ thuật đều có chứa công thức sai lầm này. Các điều luật này đã được quốc hội các nước thành viên bỏ phiếu thông qua. Tôi viết một bản phân tích được minh hoạ bằng những trường hợp cụ thể có liên quan tới vấn đề, căn cứ trên số liệu thống kê của các nước thành viên mà IMF đã xuất bản, nhấn mạnh sự sai lầm của công thức ấy. Tôi đề nghị IMF tìm cách để sửa chữa sự sai lầm. Cấp trên của tôi và nhiều nhân viên cao cấp trong ban điều hành đã sững sờ khi nhìn thấy những sự sai lầm này. Trong suốt hai năm họ cứ yêu cầu tôi viết đi viết lại nhiều lần tờ trình phân tích của tôi, để bắt tôi trình bày vấn đề một cách tổng quát hơn, làm cho loãng bớt sự sai lầm của công thức; nhưng họ tuyệt nhiên từ chối không chịu sửa đổi. Đối với họ, cơ quan IMF và nhân viên ban điều hành CBS không thể thú nhận rằng mình đã sai lầm, nhất là khi sai lầm này nằm trong các điều luật mà chính IMF đã đề nghị và đã được các nước thành viên bỏ phiếu thông qua. Vấn đề sĩ diện mà!

Theo như tôi biết, chín điều luật của chín quốc gia thành viên này từ đó đến nay vẫn chưa hề được sửa đổi.

Cơ quan CBS thường được yêu cầu nghiên cứu toàn bộ hệ thống ngân hàng của một quốc gia và cung cấp các đề nghị để tái tổ chức hay hiện đại hoá hệ thống này. Vì các nhân viên trong ban điều hành không hề có kiến thức căn bản về ngân hàng thương mại, ngoài tôi ra, nên họ thường thuê những tay cố vấn ở bên ngoài giúp đỡ công việc, nhưng thường khi người đứng đầu các phái đoàn công tác lại thiếu kiến thức tối thiểu cần thiết để thảo luận nên họ thường chấp nhận lời đề nghị của các chuyên viên thuê bên ngoài mà không tranh luận bao nhiêu. Có một lần theo lời yêu cầu của một nước châu Mỹ La Tinh (Chi-lê) tôi đã viết một luận án về những điều thuận lợi và bất lợi của hệ thống ngân hàng universal banking (ngân hàng nghiệp vụ tổng quát) trong thế giới thứ ba, với căn bản dựa trên đặc điểm và điều kiện đặc thù của quốc gia này (universal banking là ngân hàng làm tất cả các nghiệp vụ, không trừ một thứ nào, khác hẳn với các ngân hàng đầu tư, canh nông, khuyếch trương, thương mại, vv...). Bản luận án này rất dễ hiểu và rất thực tế; những quan chức chính phủ của nước này khi được đưa coi bản thảo một cách không chính thức, đã công nhận nó rất hợp lý và rất hữu ích; nhưng người cấp trên của tôi, cũng chính là con người chưa bao giờ có kinh nghiệm ngân hàng thương mại, người đã xuất thân từ một chức vụ hành chánh trong Ngân hàng Trung ương, thì lại không thích nó, bởi vì một số hoàn cảnh thực tiễn và vài vấn đề thảo luận trong bản luận án rất mới mẻ đối với ông ta – đó là nói ít nhất. Ông ta viết một bản luận án khác, hoàn toàn lý thuyết và triết học, không hề đề cập tới những vấn đề cụ thể được chính phủ nước sở tại nêu lên, ví dụ như sự thuận tiện và bất tiện của ngành ngân hàng nghiệp vụ tổng quát trong một nước đang phát triển. Đó là một bản luận án kém chất lượng, nhưng vì ông ta đã tuyên bố không chấp nhận bản luận án của tôi, ông ta đưa bản luận án của ông cho chính phủ nước kia, và những người này lặng lẽ, tìm đến tôi để xin lại bản luận án của tôi.

Thời gian trôi qua, càng lúc tôi càng khám phá thêm nhiều sai lầm nữa, và tôi càng cảm thấy thất vọng và buồn giận bởi vì không những tôi không được phép sửa chữa những sai lầm này mà tôi còn bị buộc vào cái tội là không phải “một thành phần của ban”, “thành phần” có nghĩa là phải chấp nhận tất cả mọi điều được sở CBS gợi ý hay đề nghị, không cần biết đúng hay sai. Lần lần tôi mất dần ảo tưởng với sở và với cả IMF bởi vì chất lượng kém cỏi của sở cũng phản ảnh lại trên uy tín của IMF. Ví dụ như có một đại diện IMF ở một nước Trung Mỹ được giao cho nhiệm vụ đầy quyền thế là kiểm soát tình trạng rối ren của hệ thống tiền tệ, đã không bao giờ nhận ra được rằng đồng tiền quốc gia ở đó có chứa đựng một điều khoản quan trọng in trên mỗi tờ giấy bạc là đồng tiền này được hoán đổi qua đồng đô-la Mỹ theo một tỷ suất cố định. Đây là một điều kiện rất nguy hiểm và đầy bất trắc bởi vì đồng bạc ấy đã sụt giá nhiều rồi, đã trở nên rất quá yếu và có thể bị phá giá bất cứ lúc nào; trong trường hợp đó dân chúng có quyền đòi hỏi một cách hợp pháp, chính quyền đổi tiền của họ ra tiền đô-la Mỹ với tỷ giá hối đoái cố định cũ. Khi tôi vạch rõ sự nguy hiểm này cho chính phủ sở tại, họ đều bị chấn động; thể theo lời yêu cầu của họ, tôi đề nghị xoá điều khoản ấy một cách kín đáo và huỷ bỏ điều cam kết; bằng cách lặng lẽ in các đồng bạc mới nhưng không có điều khoản nguy hiểm trên và thay dần cho những đồng tiền cũ. Nhưng vị đại diện IMF rất không bằng lòng với sự khám phá của tôi về điều khoản nguy hiểm này trên giây bạc Haiti, vì ông không bao giờ để ý đến điều đó – và sau này đã tạo đủ thứ khó khăn cho tôi ở sở CBS và cơ quan IMF. Trong những lần thảo luận với các cấp chính quyền nước sở tại, tôi đã phát hiện ra thêm nhiều điểm thiếu sót và yếu kém trong hệ thống tiền tệ và tất cả các Bộ trưởng đều đi tới kết luận là các vị đại diện IMF lâu nay đóng đô trong nước họ không phải là những người có năng lực nhất thế giới như họ đã tưởng lầm. Tôi không đề cập tới chuyện này trong báo cáo gởi về cho CBS vì đó không phải là nhiệm vụ của tôi; nếu nhắc tới nó, chắc chắn là tôi phải rơi xuống địa ngục! Đó là trách nhiệm của sở phụ trách vùng Nam Mỹ và họ không tha thứ đâu. Về chuyện tôi đề nghị chính quyền Haiti lặng lẽ xoá bỏ điều khoản cam kết trên tờ giấy bạc cũng vậy. Tôi không biết chắc từ ấy đến nay đề nghị của tôi đã được thực hiện hay chưa. Nếu độc giả nào tình cờ đi qua Haiti, thì xin nhìn coi đồng bạc hiện nay có còn mang điều khoản ấy nữa hay không.

Việc thiếu một nền tảng đào tạo thích hợp và kinh nghiệm thực hành nghiệp vụ đã dẫn tới nhiều trường hợp lúng túng và thường gây ra những vấn đề nội bộ nghiêm trọng cho IMF. Bị thúc đẩy bởi cách đối xử khác biệt trong các ban ngành và các sở khác nhau và với ý muốn cho mọi nhân viên biết qua tất cả mọi khía cạnh hoạt động của Quỹ, ban giám đốc đòi hỏi một sự cơ động rất lớn, cho phép chuyển từ sở này qua sở khác, hai hay ba năm một lần, mà không hề chú ý đến các hoạt động đặc thù của mỗi sở. Làm sao mà một nhà kinh tế không hề được đào tạo ngành ngân hàng có thể đặt vào sở Ngân hàng Trung ương và nhận nhiệm vụ hỗ trợ kỹ thuật cho các nước thành viên trong lãnh vực Ngân hàng Trung ương và ngân hàng thương mại được. Mặt khác, làm sao một tay ngân hàng chỉ được đào tạo và có kinh nghiệm về ngân hàng thôi có thể làm việc như một nhà kinh tế ở một sở khu vực (geographic department) được. Sự cơ động này thường gây ra những trường hợp khôi hài và đã mở đường cho rất nhiều trò lạm dụng; khi tôi rời khỏi IMF thì vị phó Tổng giám đốc của Sở Ngân hàng Trung ương lại là một nhà kinh tế không hề có kiến thức ngân hàng. Vào thời gian ấy toàn bộ Sở Ngân hàng Trung ương của IMF chỉ có một hoặc hai thành viên là có kiến thức thật sự về nghiệp vụ hoạt động ngân hàng; vậy làm sao IMF có thể hỗ trợ kỹ thuật một cách cụ thể và đích thực trong lãnh vực Ngân hàng Trung ương và ngân hàng thương mại cho các nước đang phát triển?

Vì thất vọng với sự kiện này, tôi quyết định xin về hưu sớm năm 1981. Trong thời gian đó mối liên hệ giữa tôi và đất nước Việt Nam được nối lại, và điều hết sức ngạc nhiên lại là từ phía bên kia. Sau khi Nam Việt Nam thất thủ, tôi gột sạch khỏi đầu mình tất cả mọi ý nghĩ trở về quê nhà hay làm việc ở đất nước. Bất ngờ vào một ngày cuối năm 1975 tôi nhận được một lá thư từ ban giám đốc Ngân hàng Trung ương Việt Nam, với cái tên mới là Ngân hàng Nhà nước, do La Văn Liếm, một nhân viên cũ của Ngân hàng Đông Dương và là đội trưởng một đội ám sát của khu Sài Gòn–Chợ Lớn. Bằng một giọng thân hữu anh ta nhờ tôi tìm cho anh một viên chức cũ của Ngân hàng Trung ương thời trước mà anh ta muốn giúp đỡ; anh cũng đề nghị tôi cứ giữ liên lạc với ban giám đốc mới của ngân hàng, vì họ có thể cần tới sự giúp đỡ của tôi. Tôi đi tìm người viên chức kia cho anh ta, và trả lời là tôi rất vui lòng giữ liên lạc với họ và giúp đỡ họ. Năm 1976 Hội nghị thường niên IMF-IBRD được tổ chức tại Manila, Phi Luật Tân; những người đồng nghiệp của tôi tham dự hội nghị, kể lại với tôi là người trưởng phái đoàn Việt Nam hỏi thăm tôi, tưởng rằng tôi cũng tới dự hội nghị. Năm 1977 tại hội nghị thường niên ở Washington thì ông Trần Dương, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Bộ trưởng Ngân hàng và Ủy viên Bộ Chính trị, tìm tôi và sau đó gặp tôi nhiều lần. Lần đầu tiên gặp tôi ông nói: “Có lẽ anh không biết tôi nhưng tôi biết anh, vì hồi ở trong rừng chúng tôi thường trích dẫn anh trên đài phát thanh Giải Phóng.” Lúc tôi còn ở Việt Nam trước năm 1975 có nhiều người bạn nói với tôi là đài phát thanh Việt cộng thường trích dẫn tôi trong những nhận định về tình hình kinh tế miền Nam, họ dùng nó để công kích Thiệu và chính sách của ông ta. Trần Dương đề nghị tôi giúp đỡ ông trong việc thảo luận với Quỹ và Ngân hàng.

Dĩ nhiên là tôi không xuất hiện trong hội nghị, nhưng ông tham khảo ý kiến của tôi về tất cả mọi đề tài thảo luận với hai tổ chức trên. Ông không hề được đào tạo về tài chánh ngân hàng, vì đã chiến đấu suốt 30 năm trong rừng từ 1945 tới 1975, nhưng ông rất muốn học hỏi. Tôi rất ấn tượng về những quan điểm thẳng thắn của ông và ngạc nhiên bởi sự chân thật của ông trong khi chúng tôi thảo luận với nhau. Ông ta nói với tôi rằng trong hệ thống tư bản ở miền Nam thì quy hoạch trung ương chả ra gì, nhưng việc quản lý kinh doanh thì tốt, trong khi ở hệ thống xã hội chủ nghĩa của miền Bắc, thì quy hoạch trung ương tốt hơn nhưng việc quản lý kinh doanh không giỏi. Ông nhờ tôi mua một số sách về quản lý trong kinh doanh để dạy ông và giúp đỡ chính phủ ở quê nhà cải thiện việc điều hành. Ông mời tôi về thăm Việt Nam một chuyến để xem những gì chính phủ đã làm được trong lãnh vực y tế và giáo dục công cộng mà ông rất đỗi tự hào. Ông tặng tôi một chai rượu nếp do hãng rượu Nam Điển Hà Nội sản xuất như một món quà của chính phủ. Một ngày kia khi cả phái đoàn chen chúc vào trong chiếc xe của tôi để về nhà dùng bữa cơm tối tôi chiêu đãi, tôi mở một băng nhạc gồm các bài ca ở miền Nam và xin lỗi vì chỉ có loại nhạc “vàng” chớ không còn gì khác. Thật là ngạc nhiên, Trần Dương nói với tôi rằng bọn họ cũng thích “nhạc vàng” miền Nam nhưng họ đã đổi lời hát. Ông cho tôi hay là ban nhạc của Ngân hàng Nhà nước cũng thường chơi những bài nhạc này và ông sẽ gởi cho tôi một vài cuộn băng ghi những bài này với lời ca mới do ban nhạc của ngân hàng thực hiện.

Năm 1981 tôi xin về hưu sớm khỏi cơ quan IMF và hợp tác với Dennis Baron thành lập một công ty riêng của tôi để kinh doanh dầu hoả trên thị trường dầu hoả thế giới. Chúng tôi đã thành công khi ký một hợp đồng với một số tiền hoa hồng khá lớn nhưng lại bị một tay con buôn người Pháp ở Dubai đoạt mất. Vì việc kiện tụng rất tốn tiền, rất mất thời gian và cũng không chắc có kết quả tốt cho mình, nên chúng tôi quyết định không thưa kiện. Khi thị trường dầu hoả bắt đầu lắng xuống và ổn định trở lại, chúng tôi quyết định đóng cửa văn phòng ở New Jersey, thay đổi kế hoạch hoạt động. Cùng với William Taylor, một cựu kỹ sư thuộc Kỹ sư đoàn danh tiếng của Mỹ và một người bạn nữa tên là Charles Welbert, một nhân viên ngoại giao của Bộ Ngoại giao Mỹ về hưu đang ở Casablanca, Ma-rốc, chúng tôi thành lập một công ty tư vấn để giúp những công ty xây dựng Mỹ trong việc liên doanh với các công ty lớn ở nước ngoài. Chúng tôi đã làm việc với các công ty Bechtel, Raymon International, Morisson, Knussen…, đã thuê công ty xây dựng lớn nhất của Ma-rốc làm một số việc trong các phi trường ở Bắc Phi. Sau khi những cuộc thương lượng đầu tiên hoàn tất, xí nghiệp Ma-rốc thông báo cho chúng tôi hay là cơ quan kiểm soát ngoại hối không cho phép họ chuyển tiền thù lao cho chúng tôi; họ nhận rằng họ nợ chúng tôi số tiền ấy nhưng không có cách nào khác để trả. Trong thời gian ấy thì Charles Welbert qua đời, William Taylor và tôi quyết định đóng cửa công ty tư vấn.

Việc này kết thúc các hoạt động kinh doanh tư nhân của tôi. Đó là số phận của tôi, nếu quả có một số phận mà tôi có thể tin được. Tôi có thể làm ra tiền cho chính phủ hoặc cho ngân hàng nhưng tôi không thể làm ra tiền cho chính bản thân tôi. Tôi có thể phục vụ công chúng và tôi có thể phục vụ đất nước, nhưng tôi không thể lo toan cho chính mình được. Nếu như tôi làm ra được một đồng nào trong các hoạt động kinh doanh riêng tư của mình, thì luôn luôn sẽ có một tên trộm hay một tên lừa đảo nào đó cuỗm mất của tôi.

Vào thời gian đó tôi nhận được nhiều lời đề nghị tư vấn. Liên Hiệp Quốc dự định gởi một phái đoàn tới Việt Nam để hỗ trợ kỹ thuật nhằm tổ chức lại hệ thống ngân hàng. Họ mời tôi tham dự phái đoàn này. Một người bạn của tôi trước đây là Giám đốc của một văn phòng địa phương của Ngân hàng Thế giới ở châu Phi, cũng được World Bank chỉ định dẫn một phái đoàn đi Việt Nam với một công tác như vậy. Anh ta không hề có một kinh nghiệm nào về Ngân hàng Trung ương và ngân hàng thương mại. Biết rằng tôi đã đóng vai chánh trong việc thiết lập toàn bộ hệ thống ngân hàng cho Nam Việt Nam từ Ngân hàng Trung ương, ngân hàng thương mại lớn nhất nước, tới Ngân hàng Khuếch trương, anh ta muốn tôi tham gia vào phái đoàn của anh. Nhưng tôi đã từng có kinh nghiệm với các phái đoàn hỗ trợ kỹ thuật của IMF và World Bank, trong đó có vài phái đoàn tôi tham gia và vài phái đoàn tôi đã dẫn đầu. Tôi hiểu rõ tinh thần và tâm lý của những phái đoàn công tác này. Tôi có thể chấp nhận làm việc với họ nếu công tác thuộc về những đất nước khác, còn đối với đất nước tôi thì tôi không thể làm việc cho các phái đoàn ấy được, bởi vì tôi có những ý kiến riêng của mình về hệ thống ngân hàng của đất nước tôi; tôi đã lập ra ba ngân hàng và với danh nghĩa Thống đốc Ngân hàng Trung ương, tôi đã hoạt động với tất cả các ngân hàng từ những ngày đầu tiên. Vì vậy tôi từ chối cả hai phái đoàn mặc dù tôi biết mình sẽ được IMF và World Bank trả một số tiền đáng kể, hàng chục ngàn Mỹ kim; trong lúc tôi cũng sẽ làm công việc ấy mà bằng túi tiền của mình nếu tôi chấp nhận giúp đỡ đất nước – một điều mà sau này tôi sẽ làm. Khi tôi đang ở Sài Gòn năm 1991 và giúp đỡ chính quyền theo lời yêu cầu của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, thì văn phòng Liên Hiệp Quốc ở Hà Nội gọi điện vào cho tôi, cố thuyết phục tôi ra tham gia phái đoàn của họ ở Hà Nội, nhưng tôi vẫn từ chối.

Trước đó một công ty tư vấn ở New York làm việc với USAID cũng đã gọi điện cho tôi mời tôi làm việc ở châu Phi với tư cách là cố vấn ngân hàng địa phương cho một số quốc gia ở Tây Phi, với một số lương rất lớn và một lô bổng lộc. Vì đã từng công tác nhiều lần cho IMF ở châu Phi, nơi tôi đã trải qua những kinh nghiệm không tốt cho sức khoẻ của mình nên tôi cũng từ chối mặc dù công việc và tiền lương rất hấp dẫn. Tôi không phải là người bị tiền cám dỗ. Đó cũng là số phận của tôi!

Năm 1991, một người bạn của tôi là cha Phan Khắc Từ, một linh mục Thiên chúa giáo và là một đại biểu Quốc hội, đã gởi cho tôi một bản fax cho biết Thủ tướng Võ Văn Kiệt muốn mời tôi viếng thăm Việt Nam để xem xét tình hình kinh tế khó khăn của đất nước và đề nghị phương thuốc cứu chữa. Cùng lúc đó tôi nhận được thư của bạn tôi, Lâm Võ Hoàng, người từng làm việc với tôi ở Việt Nam Thương tín, xác nhận lời mời của Thủ tướng Kiệt. Tôi hơi do dự bởi vì tôi vẫn còn ngại đường lối cứng rắn của chính phủ đối với những người có liên hệ với chính quyền Sài Gòn, nhưng cha Phan Khắc Từ và Lâm Võ Hoàng cứ nài nỉ mãi.

Tháng 11/1991 tôi bay về Sài Gòn và gặp Thủ tướng Võ Văn Kiệt đúng vào ngày cuối cùng trước khi ông đi Singapore và tôi quay trở về Mỹ.

Tôi trình bày những khó khăn kinh tế tài chánh của đất nước cho ông rất lâu, trong lúc hai phụ tá của ông Kiệt ngồi ghi chép. Ông nói với tôi là ông rất có ấn tượng về những gì tôi trình bày, và ông ngồi nghe rất chăm chú. Khi đến lúc ông phải đi để gặp Tổng bí thư Đỗ Mười lúc ấy đang ngồi chờ ông ở căn nhà kế cận hơn 45 phút, tôi chào từ giã nhưng ra tới cửa, ông nắm tay tôi thật chặt không muốn để tôi đi. Ông khẩn khoản yêu cầu tôi trở về lại để giúp đỡ, rõ ràng là ông rất quan tâm tới điều tôi trình bày và những giải pháp tôi đề nghị. Tôi nói với ông là tôi không thể quay về nhiều lần để giúp, bởi vì có một số các đầu nóng chống cộng bên Mỹ chắc chắn sẽ không chịu hiểu lòng muốn giúp đỡ nhân dân của tôi, và chắc chắn sẽ làm hại tôi. Ông bèn đề nghị là nếu tôi không về Việt Nam để giúp ông, thì ông mong rằng bất cứ khi nào ông ra nước ngoài, ông sẽ báo tôi biết và tôi tới gặp ông để thảo luận những vấn đề cùng ông và những người phụ tá. Tôi nói rằng như vậy thì dễ bị người ta nhìn thấy quá nên tôi chỉ muốn là có dịp thỉnh thoảng về nước để nghiên cứu các vấn đề kinh tế tài chánh của đất nước và vạch chương trình phát triển kinh tế, nhằm giúp đỡ nhân dân Việt Nam vốn đã chịu quá nhiều đau khổ cơ cực.

Nhưng khi tôi trở về lần thứ hai vào tháng 4/1992 tôi nhận thấy vị Thủ tướng lạnh nhạt, thái độ hoàn toàn thay đổi. Tôi chán nản, nên tôi nói với linh mục Phan Khắc Từ là tôi sẽ không trở về nữa. Tôi hiểu rằng trong thời gian vừa qua, khi Thủ tướng Kiệt trao đổi về chuyến viếng thăm của tôi với Nguyễn Xuân Oánh, thì Oánh với bao nhiêu nỗi ganh tức chồng chất trước kia, đã huỷ hoại tiếng tăm của tôi với Thủ tướng Kiệt. Vì ganh ghét với những chức vụ tôi ở World Bank và IMF cao hơn chức vụ cuả Oánh ở IMF, vì ganh ghét với sự nghiệp ở Ngân hàng Trung ương Việt Nam lâu dài và thành công của tôi, so với sự nghiệp ngắn ngủi và thất bại của anh ta, sự dính líu của anh ta trong vụ tôi đưa Lederer ra toà v.v…, Oánh đã chôn vùi tên tuổi tôi với Thủ tướng Kiệt. Nếu Thủ tướng Võ Văn Kiệt thẩm tra lại những lời vu cáo này và biết được sự thật thì tôi đã có thể làm được rất nhiều để giúp đất nước và nhân dân, nhiều hơn những gì tôi đã làm giữa các năm 91 tới 94. Và tất cả những điều này bằng chi phí của chính tôi, không chút cầu mong đền bù từ phía chính phủ hay một cơ quan quốc tế nào: tôi chỉ muốn phục vụ Tổ Quốc và Nhân Dân tôi. Thế thôi, không còn một lý do gì khác.

Thật là tệ hại! Đôi khi một hình dong chải chuốt với một cái lưỡi rắn và một trái tim hổ rừng có thể gây rất nhiều tai hại cho rất nhiều người.

Nhưng linh mục Từ cứ thuyết phục tôi về nghĩa vụ đối với đất nước và khẩn khoản yêu cầu tôi trở lại Sài Gòn, và tôi đã về thêm hai lần nữa trong năm 93 và 94. Từ năm 91 tới năm 94 tôi đã viết rất nhiều bài viết về các vấn đề kinh tế tài chánh Việt Nam và những phương án giải quyết mà tôi xuất bản ở Paris và luôn luôn gởi một bản sao cho Thủ tướng Kiệt qua linh mục Từ. Trong chuyến đi cuối cùng năm 94, tôi trao cho Thủ tướng Kiệt, phó Thủ tướng Phan Văn Khải, các Bộ trưởng có liên quan và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, một chương trình phát triển đặc biệt cho Việt Nam, trong đó tôi gói gọn những chương trình đặc điểm lúc đó đang giúp sự phát triển các quốc gia láng giềng, cũng như các nước khác đang phát triển rất nhanh trên thế giới; tôi đã làm việc này sau hai chuyến qua Paris và New York để nghiên cứu, tại đó tôi đã trao đổi rất nhiều với các chuyên gia đã làm việc tại những quốc gia này và với các ngân hàng đã tài trợ cho những biện pháp nói trên.

Nhưng tôi vẫn không thấy có phản ứng thuận lợi từ các nhà chức trách Hà Nội và tôi nhận thấy bầu không khí lúc đó ở nước nhà không thích hợp cho việc thực hiện chương trình phát triển của tôi. Tôi rất buồn khi thấy sự hy sinh và lòng cố gắng cuả tôi không đem lại được những kết quả tôi mong muốn cho dân tôi, nên tôi đành bỏ cuộc nữa đường, không muốn tiếp tục nữa.

Ngày nay tôi vẫn không biết chính quyền đã sử dụng những điều tôi đề nghị được bao nhiêu, và chương trình của tôi đã giúp đỡ được bao nhiêu cho nhân dân tôi, người dân Việt.

Nguồn: Cuốn hồi ký này được tác giả tự xuất bản lần đầu năm 2004 tại California. Ấn bản lần thứ nhì đăng trên talawas có một số hiệu đính và bổ sung, bản điện tử do tác giả cung cấp.

viet-numis
Site Admin
Posts: 1345
Joined: Mon 17 Apr, 2006 2:44 pm

Post by viet-numis » Tue 30 Dec, 2008 12:49 am

IX. Chánh sách ngoại giao Hoa Kỳ

Đầu thập niên 50, khi tôi bắt đầu tiếp xúc với những ngân hàng lớn của nước Mỹ ở New York, như ngân hàng America, ngân hàng City Bank, ngân hàng Chase Manhattan Bank, ngân hàng Hannover Bank, tôi đã gặp khá nhiều nhân viên trẻ trong ban điều hành, trước đây đã từng làm việc ở các cơ quan OSS (Office of Security Service), tiền thân của CIA trước và trong cuộc thế Chiến thứ II; họ đã được gởi tới Trùng Khánh ở miền Nam Trung Quốc và tới miền Bắc Việt Nam để quan sát tình hình quân sự và chính trị tại các vùng này, cũng như mối quan hệ giữa lãnh tụ quốc gia Tưởng Giới Thạch, lãnh tụ Trung cộng Mao Trạch Đông, phong trào Việt Minh. Chúng tôi thường nói chuyện với nhau rất thân mật và rất lâu trong đêm khuya, trong ánh sáng mờ mờ của một căn phòng ấm cúng tại một tiệm ăn ở New York, nơi đó những người như McClelland, Hank Sperry, John De Loin… kể tôi nghe về những ngày tháng họ sống trong rừng giữa những người du kích… Chúng tôi rất sung sướng khi gặp nhau và nói chuyện với nhau, bởi vì họ chưa hề gặp lại một người Việt Nam nào từ khi họ ra khỏi những vùng rừng núi xa xôi ấy; và tôi cũng chưa hề gặp một người nào đã từng trải qua những rối rắm khôn xiết về chính trị ở những vùng này trong cuộc chiến tranh. Một vài người trong bọn họ đã kể tôi nghe mối quan hệ của họ với các du kích quân Việt Nam của nhóm cộng sản cũng như của nhóm quốc gia, cuộc sống gian khổ của người du kích, những nỗi thống khổ cay đắng của họ, những sự hy sinh to lớn của họ cho đất nước; những người Mỹ trẻ tuổi này đã thường thảo luận rất nhiều với các cán bộ của quân du kích, về những lời yêu cầu được giúp đỡ thuốc men và lương thực. Những cán bộ của quân du kích đã hỏi những người bạn Mỹ của tôi tại sao chính phủ Mỹ không chịu giúp đỡ các nhà lãnh đạo của họ, chiến đấu chống lại người Pháp, trong khi ai cũng biết dân Mỹ luôn luôn chống lại chế độ thực dân và sự thống trị của nước ngoài. Những người bạn Mỹ của tôi cho tôi biết là họ đã gởi rất nhiều báo cáo về Washington, ủng hộ việc đối thoại và giúp đỡ các nhóm Việt Nam chống Pháp. Nhưng Tổng thống Eisenhower vẫn lo ngại Việt Nam sẽ quá gần gũi với một nước Trung Hoa đang có nguy cơ trở thành cộng sản, hơn là bận tâm tới chính sách chống thực dân của Hoa Kỳ. Vào lúc đó chánh phủ Mỹ đâu có biết được sự kình địch sau này giữa Trung Quốc và Liên Xô và họ sợ nước Mỹ có thể sẽ phải đương đầu với hai cường quốc nếu như Mỹ nhúng tay vào Việt Nam.

Vì đã từng nghe những sự hy sinh của các chiến sĩ du kích trong cuộc chiến đấu chống lại quân đội thực dân Pháp và về sự nghiệp chống ách thống trị Pháp suốt mấy chục năm của dân tộc Việt Nam, tôi không thể nào tránh khỏi cái cảm giác rằng cả tôi nữa, lẽ ra cũng phải tham gia cuộc chiến đấu ấy như tôi đã làm trong các năm 1945 – 1946 ở Việt Nam.

Nhưng những người bạn ấy, những nhân viên ngân hàng đã từng sống trong rừng với các chiến sĩ du kích lúc ấy, lần lần biến mất bởi phong trào chống cộng McCarthy ở nước Mỹ trong những năm 50, hoặc bởi họ đã thay đổi nghề nghiệp, chỉ trừ một người mà trong một khoảng thời gian sau đó vẫn luôn luôn giúp tôi gởi thư và tiền về Việt Nam cho những người bà con của tôi, nhanh hơn là cách gởi bình thường vốn phải mất tới 2 hoặc 3 tháng mới tới nơi.

Ông Foster Dulles, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ lúc đó, là người chống cộng kịch liệt, rất cứng rắn, không khoan nhượng. Ông ta không bao giờ chịu thoả hiệp hay nhân nhượng; đó cũng chính là đường lối ngoại giao của nước Mỹ, ngay từ lúc đó và về sau. Người dân Mỹ vốn có lòng tốt và thẳng thắn, tính chất này cũng được thể hiện trong quan niệm ngoại giao của Mỹ. Nhưng bởi vì người Mỹ rất thẳng thắn, tánh tình rất cứng rắn, không hay thay đổi, nên chính sách ngoại giao của Mỹ cũng vậy. Qua nhiều thập niên, nước Mỹ trở thành nước phát triển nhất, thịnh vượng nhất thế giới, người dân Mỹ cũng trở nên tự hào và chính sách của nước Mỹ cũng trở nên chính sách kiêu ngạo nhất thế giới. Khác với chính sách của châu Âu, chính sách ngoại giao của Mỹ có một lý lịch và một lịch sử ngắn hơn nhiều. Điều này cũng là một trở ngại cho sự mềm dẻo uyển chuyển. Lịch sử của nước Mỹ không có những truyền thống lâu dài về ngoại giao như ở châu Âu với Metternich, Richelieu, Bismarck … nếu không thì với một chút linh hoạt trong chính sách và nền ngoại giao, nước Mỹ đã có thể dẫn Việt Nam tới hoàn cảnh như Nam Tư của Tito, Ba Lan của Walessa và Tiệp Khắc của Havel. Việt Nam bị kẹt cứng giữa hai khối cường quốc và không ai trên sân khấu thế giới có đủ quyền lực và đủ quan tâm để thay đổi tình thế cho Việt Nam, mở ra một con đường giải quyết mới có thể đem lợi ích cho Việt Nam và cho nhiều quốc gia khác… Năm 1954 khi nước Pháp sắp sửa bị đánh bại ở Điện Biên Phủ, Pháp đã yêu cầu Mỹ sử dụng bom nguyên tử để đánh bạt quân đội Bắc Việt đang bao vây Điện Biên Phủ, nhưng Eisenhower từ chối, vì sợ Pháp tái chiếm lại thuộc địa, nhiều hơn là quan tâm tới tính mạng con người. Cho nên đôi khi một sự thay đổi nhỏ và một hành động tích cực hơn có thể tạo ra một bản đồ chính trị mới có thể thay đổi vận mệnh của Việt Nam. Nhưng tôi không thể biết chắc là lúc đó miền Nam Việt Nam có thể dàn xếp được với miền Bắc một lối sống chung có thể tồn tại được lâu dài như Nam và Bắc Triều Tiên sau Bàn Môn Điếm hay không.

Từ tháng 10/1965, khi Tổng thống Johnson quyết định dốc toàn lực cho cuộc chiến tranh, thì chiến lược trên cả hai mặt trận ngoại giao và quốc phòng đều sanh ra do dự, và việc chỉ đạo chiến tranh trở nên lúng túng, không lường trước được. Dù không phải là một nhà chiến lược quân sự, tôi cũng có thể tưởng tượng được là anh không thể chiến đấu với hai tay bị trói quặt sau lưng. Chính sách Việt Nam của nước Mỹ không được thực hiện chỉ ở toà Bạch Ốc hay ở Bộ Ngoại giao. Có rất nhiều cơ quan tham dự vào việc định hình một chính sách và người ta có thể thấy rằng nếu có một chính sách chủ yếu thì cũng có nhiều ý kiến khác chen chân vào chánh sách đối xử với Việt Nam.

Bây giờ nếu ta nhìn khắp thế giới, có bao nhiêu quốc gia ưa thích chính sách ngoại giao của Mỹ, và bao nhiêu người dân Mỹ được thế giới ưa thích. Và trong chính quyền Mỹ có bao nhiêu nhà lãnh đạo, ngoài Clinton và Carter, được nổi tiếng ở ngoài nước Mỹ? Còn trong quốc hội Mỹ thì có thể tỉ lệ này khá hơn nhưng chắc cũng không bao nhiêu. Ở bên ngoài người ta biết người dân Mỹ chính thống rộng rãi và dễ thương, nhưng “người Mỹ” được đại diện qua các nhà ngoại giao ưa phô trương, khinh miệt người khác, không được thế giới bên ngoài thương yêu. Một số chính phủ Mỹ hống hách ngạo mạn như chính phủ Bush chẳng hạn, chỉ có thể thu được sự khinh miệt của thế giới bên ngoài, dù Mỹ là quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, có lòng rộng rãi giúp đỡ viện trợ nhất và một quốc gia dân chủ nhất.

Một điểm đặc biệt nữa cũng cần phải chú ý: những nhà ngoại giao Mỹ gốc thế giới thứ ba như Đại Hàn, Trung Quốc, Nhật Bản, Phi Châu… thường tự cao và hống hách hơn cả người Mỹ chính thống, vì họ muốn tỏ ra họ “Mỹ” hơn cả người Mỹ. Điều này không phải chỉ có ở ngành ngoại giao Mỹ, nó cũng đúng với những nhà ngoại giao Pháp, với chính quyền thực dân Pháp hay những chính quyền thực dân Bỉ, Anh Quốc hoặc Hà Lan. Tôi đã quan sát thấy tình trạng đó trong thời kỳ Việt Nam còn là thuộc điạ của Pháp và sau này, ở Indonesia, ở vùng biển Ca-ri-bê, ở Phi châu. Khi một chánh phủ bố trí nhân viên ngoại giao có gốc gác từ các nước đang phát triển, thì những các cơ quan ngoại giao Âu Mỹ nghĩ rằng dân chúng địa phương sẽ thích họ. Nhưng đó là một quan niệm sai lầm. Chánh sách ngoại giao không thể nào thành công khi chánh phủ gởi những nhân viên này ra nước ngoài để làm một công việc đòi hỏi sự tiếp xúc nhiều với dân chúng địa phương, trừ khi họ đã được huấn luyện trước về mặt tâm lý và tinh thần liên quan đến thói mặc cảm tự tôn của họ.

Cho nên bây giờ, mặc dầu Hoa Kỳ là nước phát triển nhất, mạnh nhất thế giới, người Mỹ không thể mong nước họ được lòng người hay được yêu thương nhất trên thế giới. Họ chỉ có thể mong rằng Hoa Kỳ được thế giới biết đến nhiều nhất vì nước Mỹ hiện đại hơn những nước khác; văn hoá và lối sống Mỹ cũng có rất nhiều ảnh hưởng ở nước ngoài; và thế giới bên ngoài thường có khuynh hướng hay bắt chước những gì mang tính chất Mỹ (kẹo sing-gôm, Coca Cola, hăm-bơ-gơ, bánh rán…). Thế nhưng chính sách Mỹ ở Trung Đông và ở Iraq thì không được lòng người bên ngoài nước Mỹ, đặc biệt là tại các nước Ả Rập, thế giới Hồi giáo và ngay cả ở Âu châu và Á châu. Luôn luôn đó là một điểm kẹt trong quan hệ của nước Mỹ với thế giới bên ngoài. Mới đây theo một cuộc thăm dò dư luận thì ở các quốc gia Ả Rập và ở thế giới Hồi giáo, 90% dân chúng ghét Mỹ. Ta đừng nên quên Hồi giáo là khối tôn giáo lớn nhất trên thế giới và cũng là khối tôn giáo tăng nhanh nhất. Đó là điều mà người Mỹ luôn luôn phải nhớ trong đầu, và tất cả mọi chính quyền dù là Cộng hoà hay Dân chủ đừng bao giờ quên rằng đó có thể là hạt giống hay mầm mống cho cuộc chiến thế giới thứ ba ngày mai.

Có một điểm mà nhân dân, chính phủ và các nhà ngoại giao Mỹ phải luôn luôn ghi nhớ, một sự thật muôn đời mà chúng ta không được phép quên: “Không một dân tộc nào trên thế giới, dù văn minh hay không văn minh, dù còn hoang dã tới đâu hay hiện đại tới đâu, giàu nhất hay nghèo nhất, lại muốn đất nước mình bị xâm lược và chiếm đóng, dù ý chí của kẻ đến chiếm đóng có tốt bao nhiêu đi nữa.”

Nếu chúng ta có thể tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý rộng khắp thế giới, chúng ta sẽ thấy rằng 100% dân chúng sẽ chống lại việc xâm lược và chiếm đóng của một dân tộc khác, đặc biệt là dân da trắng từ châu Âu và Mỹ. Nhật Bản đã học được bài học này với những nước láng giềng ở châu Á, mặc dù họ đã chọn ngọn cờ “Khối Thịnh vượng chung châu Á” trong những năm 40. Từ những thời đại xa xưa nhất, từ thời nguyên thuỷ của loài người, không ai ưa bị xâm lược và chiếm đóng. Hãy nhìn lại lịch sử nhân loại và ta sẽ thấy sự thật muôn đời này. Chủ nghĩa thực dân và sự chiếm đóng của nước ngoài luôn luôn để lại một vị cay đắng trong miệng con người, và một chất độc chết người ở trong đầu óc họ. Những dân tộc bị xâm lược và chiếm đóng luôn luôn nghi ngờ rằng những kẻ chiếm đóng có ý định đen tối: tìm kiếm tài sản báu vật, khai thác tài nguyên đất nước, tìm kiếm dầu và quặng mỏ là nền tảng của chủ nghĩa thực dân…

Đừng nói chuyện tự do, đừng nói chuyện tự quyết, đừng nói chuyện truyền bá văn minh. Đừng nói chuyện dân chủ. Không ai tin anh đâu. Họ biết rằng anh chỉ được cái miệng.

Nước Mỹ luôn luôn rêu rao nó không hề có ý định thực dân, nhưng Mỹ luôn luôn quên mất sự thật muôn thuở ấy, bởi vì nước Mỹ nhiều khi bị lãnh đạo bởi những chính trị gia tham lam ngông cuồng hoặc các chánh phủ kiêu ngạo và hống hách.

Người Mỹ phải tự hỏi lấy chính mình: “Chúng ta có muốn bị xâm lược không? Chúng ta có muốn bị chiếm đóng không? Nếu chúng ta không muốn, thì tại sao chúng ta lại xâm lược những đất nước khác, chiếm đóng những quốc gia khác? Nếu chúng ta không muốn vậy tại sao chúng ta lại chia trái đất ra làm hai, một cho chúng ta và một cho thế giới bên ngoài?”.

Khi chánh phủ Bush đánh vào và chiếm đóng Iraq, một mình hay gần như một mình, mặc dầu các nước Đồng minh Âu châu chống đối, và Liên Hiệp Quốc không đồng ý, thì có phải đây là một chánh sách ngoại giao ngạo mạn, kiêu ngạo không? Rồi sau khi đã mất vào chiến tranh hàng trăm tỷ Mỹ kim với hàng ngàn binh sĩ bị tử vong và hàng trăm ngàn dân Iraq bị giết, chánh phủ Bush phải kêu gọi cầu cứu Liên Hiệp Quốc và đồng minh Âu châu vào giúp, thì Hoa Kỳ có mất mặt không? Các nhà lãnh đạo Mỹ đã quên lịch sử và số phận của đoàn quân viễn chinh đế quốc Anh Cát Lợi hồi trước sao? Sau khi đánh vào và chiếm đóng Iraq 15 năm, và mất hàng ngàn binh sĩ bị tử vong, chánh phủ Anh phải rút quân về và Thủ tướng Winston Churchill năm 1945 phải thốt ra lời than thở: “Tôi rất hối hận đã cho quân vào chiếm đóng Iraq”. Với số binh sĩ tử vong hàng ngàn và dân chúng Iraq bị tiêu diệt hàng trăm ngàn, Hoa Kỳ đang đi theo số phận của Anh Cát Lợi trước đây.

Và chúng ta không nên quên một quy luật của thiên nhiên được thừa nhận và tôn trọng bởi tất cả các tôn giáo trên thế giới: “Không có một vụ giết người nào là không phải trả giá, không có một vụ ám sát nào được quyền làm, không có một vụ diệt chủng nào mà khỏi chịu tội. Những ai làm những chuyện này đều sẽ phải trả, không bằng cách này thì bằng cách khác; nếu họ chưa kịp trả thì con cái họ hay cháu chắt họ phải trả; nếu thế hệ hiện tại chưa trả, thì thế hệ kế tiếp và những thế hệ trong tương lai sẽ phải trả.”

Nhưng trong chính trị, vấn đề nhức nhối là nếu ta xét một khoảng thời gian chừng một thế kỷ so với vĩnh cửu thì chỉ là khoảnh khắc của một giây đồng hồ, thì thường thường kẻ tội phạm không trả nhưng những người vô tội nối tiếp về sau lại phải trả!


Kết

Sau 30 năm làm việc cho dân tộc và phụng sự đất nước, ngày nay, tôi không khỏỉ ngồi ngẫm nghĩ lại những gì tôi đã gặp trong khi thi hành phận sự ở trong và ngoàì nước.

Tôi đã được nuôi dưỡng bằng những giá trị truyền thống kết tinh qua bao nhiêu thế kỷ hào hùng, và nhân hậu của tổ tiên, trên nền tảng của những tư tưởng vĩ đại của phương Đông, và tình thương vô tận của dân tộc.

Trong câu chuyện kể lại quãng đời đã trải qua, biết bao nhiêu lần tôi buồn rầu trông thấy những giá trị ấy hầu như biến mất, không còn dấu vết ở một số người, đặc biệt ở những con người được coi là thuộc tầng lớp thượng lưu, tinh hoa nhất của xã hội, trong lúc tính trung hậu thuỷ chung lại chỉ còn được tìm thấy ở nơi dân nghèo, chất phác ở thôn quê.

Trên trường quốc tế, tôi cũng chán nản, nhìn thấy bao nhiêu sự lầm lẫn của công chức người ngoại quốc, ở những địa vị cao cấp nhất, đại diện cho những xã hội ưu tú nhất của thế giới, đã có những tư cách và hành động kém cỏi, không khác gì những viên chức các nước hậu tiến, chỉ vì tham lam tranh nhau quyền lợi cá nhân, riêng tư, ít khi nghĩ đến quyền lợi chung của nhân loại.

Tất cả đạo giáo trên thế giới đều có mục đích cao xa, thay đổi con người, đào tạo ra một con người có tình thương nhiều hơn, có đức hạnh cao hơn. Nhưng qua những năm 47, tôi vào đại học và chen chúc với xã hội Pháp, rồi đến các năm 50, qua Mỹ để học hỏi “đời sống dân chúng Mỹ” – the American Way of Life – và lăn lộn bao nhiêu năm với xã hội Mỹ, tôi thấy rõ, xã hội ở Âu châu, ở Mỹ châu, cũng như ở nước nhà, đã thay đổi nhiều từ đó và bây giờ tư cách con người bất cứ ở xã hội nào cũng kém thua ngày xưa nhiều.

Tôi không khỏi tự hỏi loài người sẽ đi đến đâu?

N.H.H.
Santa Barabara, Tháng Năm 2004


Lời ghi chú

Toàn bộ tiền bán sách Câu chuyện đời tôi (ấn bản đầu) đều được đóng góp vào quỹ của Hội Việt học. Tuy nhiên, xin lưu ý độc giả sách được xuất bản từ đầu năm 2004, nên có hơi khác với sách trên mạng talawas, nhưng không bao nhiêu. Xin liên lạc với ông Lân Minh Lê 15355 Brookhurst St, Suite 222. Westminster, CA 92683, USA. Email: Bandieuhanhvvh@yahoo.com.
Last edited by viet-numis on Tue 30 Dec, 2008 12:54 am, edited 1 time in total.

viet-numis
Site Admin
Posts: 1345
Joined: Mon 17 Apr, 2006 2:44 pm

Post by viet-numis » Tue 30 Dec, 2008 12:53 am

Phụ lục
Ảnh tư liệu chọn lọc

Image
Hình tác giả Nguyễn Hữu Hanh trên bìa cuốn hồi ký, bản tiếng Anh và bản tiếng Việt

Image
Hội nghị Tổng trưởng Kinh tế châu Á Thái Bình Dương tại Manila, 1957

Image
Hội nghị Thống đốc các Ngân hàng Trung ương Đông Nam Á (ông Nguyễn Hữu Hanh là người ngồi ngoài cùng, bên phải)

Image
Hội nghị thường niên Quỹ Tiền tệ Quốc tế - Ngân hàng Thế giới, 1960

Image
Hội kiến với Tổng thống Mỹ Johnson tại Nhà Trắng, 1965


Image
Hội đồng Tổng trưởng Kinh tế Đông Nam Á, 1967

Nguồn: Cuốn hồi ký này được tác giả tự xuất bản lần đầu năm 2004 tại California. Ấn bản lần thứ nhì đăng trên talawas có một số hiệu đính và bổ sung, bản điện tử do tác giả cung cấp.

nguyenminh2001
Posts: 3
Joined: Mon 27 Oct, 2008 6:13 am
Location: ho chi minh city

gởi bác Admin

Post by nguyenminh2001 » Wed 07 Jan, 2009 1:12 am

Mình xin gởi lời cám ơn đến bác, đây là 1 cuốn sách rất hay, mình đã bỏ bưồi sáng hôm nay để đọc nó, hy vọng bác sẽ giới thiệu nhiều cuốn sách hay khác

Xin cảm ơn
Nguyen Minh
0908.500.645
Chuyên mua bán 2$ may mắn

Post Reply

Return to “Tài liệu tham khảo”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests