Tiền cổ ngoại truyện (hầu các bác đọc khi có thời gian) 祝你们愉快

Các tài liệu phục vụ cho việc sưu tầm
Post Reply
meiying
Posts: 72
Joined: Wed 24 May, 2006 2:43 pm

Tiền cổ ngoại truyện (hầu các bác đọc khi có

Post by meiying » Thu 17 Aug, 2006 3:41 pm

Tiền tệ thời tiền sử đến Bắc thuộc
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, nằm ở phía Đông của bán đảo Đông Dương, diện tích khoảng 330.000Km2, có đồng bằng, trung du, miền núi. Đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng châu thổ sông Mê Kông đất đai phì nhiêu, nguồn nước dồi dào, khí hậu ấm áp là khu vực phát triển nông nghiệp, đem lại nguồn lương thực cho cả nước. Địa hình của Việt Nam và các quốc gia châu Á lân cận núi liền núi, sông liền sông, do đó Việt Nam có các loài động, thực vật của lục địa châu Á, đồng thời cũng là địa bàn cư trú, sinh sống của những bộ tộc người cổ xưa. Chủ thể của văn hóa Việt Nam là dân tộc Kinh cùng các dân tộc anh em từ ngàn đời cùng nhau sáng tạo lên nền văn hóa độc đáo, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, các dân tộc Việt Nam "Dù là Kinh hay Thổ, Mường hay Dao, Gia Lai, Ê Đê, Xê Đăng, Ba Na và các dân tộc anh em khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là cốt nhục huynh đệ, cùng sống chết có nhau, no đói có nhau". Do đó, các dân tộc Việt Nam cùng nhau xây dựng lên nền văn hóa Việt Nam, như cuốn "Lịch sử Việt Nam" ghi: "Việt Nam nằm ở ngã ba đường khu vực Đông Nam Á, do đó sớm trở thành địa bàn sinh tụ của các bộ lạc người, nơi giao lưu văn hóa của các tộc người Đông Nam Á lục địa và và Đông Nam Á hải đảo". Do đó, lịch sử tiền tệ Việt Nam từ thời tiền sử đến Bắc Thuộc (trước triều Đinh, thế kỷ thứ 10) mang dấu ấn giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực châu Á.
1. Thời kỳ xã hội thị tộc - vật đổi vật.
Các nhà nghiên cứu lịch sử chỉ ra rằng, trước khi bước vào thời kỳ văn minh, xã hội loài người trải qua thời kỳ xã hội thị tộc. Thời kỳ xã hội thị tộc ở Việt Nam cũng giống như vùng phía Nam lục địa châu Á, có một thời kỳ đan xen giữa giai đoạn cuối của xã hội thị tộc với các quốc gia phong kiến sơ khai, thời điểm cuối cùng của giai đoạn này vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên. Các dân tộc ở khu vực Lĩnh Nam (Nam Trung Quốc) và Bắc Việt Nam được gọi là "Bách Việt", sách "Hán Thư" ghi: "Từ Giao Chỉ đến Hội Kê 7, 8 nghìn dặm, là vùng Bách Việt, có các họ", Giao Chỉ tức là vùng phía Bắc Việt Nam, Hội Kê chỉ vùng Giang Tô, Triết Giang (Trung Quốc). Từ vùng Giang Tô, Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây đến phía Bắc Việt Nam 7, 8 nghìn dặm là khu vực phân bố của người "Bách Việt". Bách Việt là để chỉ các dân tộc phương Nam khác nhau, gồm có: Ngô Việt, Vu Việt, Đông Âu, Thục, Nam Việt, Tây Âu, Lạc Việt... Trước thế kỷ thứ 3, bộ tộc ở vùng Giao Chỉ gọi là "Lạc", sách "Giao Châu Ngoại vực ký" chép: "Giao Chỉ tích mạt hữu quận huyện chi thời, thổ địa hữu Lạc điền, kỳ điền tòng triều thủy thượng hạ, dân khẩn thực kỳ điền, nhân danh vi Lạc dân. Thiết Lạc vương, Lạc hầu chủ chư quận huyện. Huyện đa vi Lạc tướng, Lạc tướng, đồng ấn thanh thụ" (Giao Chỉ thời trước chưa có quận huyện, ruộng có ruộng Lạc, ruộng đó theo nước thủy triều lên xuống, dân khẩn ruộng mà ăn nên gọi là dân Lạc, đặt Lạc vương, lạc hầu cai quản các quận huyện, ở huyện là Lạc tướng, Lạc tướng ấn đồng dải xanh". Theo đó "thiết Lạc vương, Lạc hầu chủ chư quận huyện" tức là ghi việc sau khi đã lập quận huyện, thời trước khi có quận huyện là liên minh bộ lạc của các xã hội thị tộc Lạc dân, Lạc vương là thủ lĩnh của liên minh bộ lạc, lạc hầu tức là thủ lĩnh bộ lạc, Lạc tướng là thủ lĩnh quân sự. Phan Huy Chú ghi trong "Lịch triều hiến chương loại chí": "Đương thời, vua cùng cày ruộng với dân, cha con cùng tắm một dòng sông, không có giới hạn, không phân vai vế".
"Lĩnh Nam chích quái" ghi: "Xưa, không đủ dùng, lấy vỏ cây làm quần áo, lấy cói làm chiếu, lấy nhựa cây làm rượu, lấy các loại cây báng cùng các loại thú, cá, côn trùng làm thức ăn, đốt cây làm muối". Điều này chứng minh, đương thời thủ lĩnh và Lạc dân cùng lao động với nhau, cùng chia thành quả lao động, cùng sinh hoạt, quan hệ bình đẳng, chưa có sự những giới hạn về đẳng cấp ngặt nghèo.
Đời sống đơn giản như vậy dựa trên một cơ sở kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc. Tuy vậy, đến cuối giai đoạn này, bắt đầu xuất hiện những mộ táng có rất nhiều đồ tuỳ táng bên cạnh những mộ táng rất giản đơn chứng tỏ sự phân tầng trong xã hội đã bắt đầu diễn ra. Điều đó chứng minh lực lượng sản xuất đã phát triển đến một trình độ nhất định, một số người đã sở hữu số của cải thặng dư trong xã hội, những người này để thoả mãn những nhu cầu ngày càng cao của mình đã có những hành vi trao đổi. Những hành vi trao đổi sơ khai, vì của cải thặng dư chưa nhiều, thường là thông qua hình thức trao đổi trực tiếp giữa những người có nhu cầu trao đổi trên cơ sở thoả thuận, họ mang những thứ dư thừa của mình để đổi lấy những vật mà mình cần dùng. Đổi đồ vật gì, đổi với số lượng bao nhiêu, tuỳ thuộc tình hình mà thỏa thuận, do vậy hành vi trao đổi này thường không bình đẳng, không thực sự thỏa mãn nhu cầu của cả hai bên. Dần dần số lượng và chủng loại sản phẩm có nhu cầu trao đổi ngày một nhiều, hành vi trao đổi trở lên thường xuyên, xuất hiện một số đồ vật có tỷ lệ trao đổi tương đối cố định. Thông qua mâu thuẫn của quá trình phát triển, dần hình thành nên một mức giá cả tương đối ở trong một địa bàn nhất định và xuất hiện một vật trung gian môi giới thay cho việc đổi trực tiếp đồ vật, những vật trung gian môi giới này thường là những đồ vật thường phải sử dụng trong xã hội, hoặc khó kiếm trong tự nhiên hay những vật đòi hỏi nhiều công sức chế tác. Các tài liệu khảo cổ học chứng minh rằng, thời kỳ xã hội thị tộc Lạc Việt, những vật trung gian môi giới là: lúa gạo, bò, vải, đồ đồng, đá quý, và ốc biển... Hình thức trao đổi sơ khai vật đổi vật hiện vẫn còn tồn tại ở đồng bào một số dân tộc ít người miền núi. Hình thức trao đổi này phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của xã hội thị tộc. Những vật trung gian môi giới xuất hiện thời kỳ này tuy chưa phải là tiền tệ, nhưng đã đảm đương vai trò của tiền tệ, do đó có thể nói rằng, tiền tệ sơ khai trong lịch sử Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ thời kỳ này.
2. Người Việt cổ sử dụng ốc làm tiền tệ.
Thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên, bộ lạc Thục ở phía Bắc giỏi về chế tạo cung tên bằng đồng tiến xuống phía Nam kết hợp với người bản địa Lạc Việt. Sử liệu ghi rằng: "Con trai vua Thục đem 3 vạn binh lính xuống hàng phục Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng. Con trai vua Thục xưng là An Dương Vương .... An Dương Vương có thần nhân tên là Cao giúp đỡ, chế ra nỏ thần, bắn ra một phát có thể giết 300 người". Đoạn sử liệu này chứng minh bộ lạc Âu của họ Thục và người Lạc Việt kết hợp với nhau, thành lập một liên minh bộ lạc, sử gọi là "Nước Âu Lạc".
Tình hình kinh tế xã hội thời kỳ liên minh bộ lạc Âu - Lạc có những bước tiến bộ hơn so với giai đoạn trước, cụ thể:
- Xây thành: An Dương Vương xây thành Cổ Loa (hiện còn di tích ở ngoại thành Hà Nội), rộng nghìn trượng, theo hình xoắn ốc nên gọi là "Loa Thành". Đây là một trong những tòa thành cổ nhất Đông Nam Á.
- Chế tạo cung nỏ và nông cụ. Kỹ thuật luyện kim phát triển, có thể chế tạo được những máy bắn nỏ, đồng thời xuất hiện nhiều loại hình nông cụ có năng xuất cao.
- Nuôi ngựa. Người Lạc Việt trước đây vốn không có ngựa, người Thục mang kỹ thuật nuôi và thuần dưỡng ngựa vào.
- Dệt vải, thời kỳ trước chủ yếu là cởi trần, đóng khố, xăm mình và dùng những loại vải từ vỏ cây, đến thời kỳ này bắt đầu xuất hiện nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải.
- Nấu rượu, nghề nấu rượu đã phát triển từ "lấy nhựa cây làm rượu" tức chỉ các loại rượu hoa quả thành loại rượu được nấu từ ngũ cốc.
Lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến những thay đổi về quan hệ sản xuất. Thời kỳ này đã xuất hiện tầng lớp thống trị "vương", "hầu", "tướng". Tầng lớp thống trị này chiếm đoạt sản phẩm xã hội, biến các thành viên trong bộ lạc trở thành nô lệ, biến ruộng đất công thành ruộng đất tư, quy định chế độ thế tập, cha truyền con nối. Tức là thiết lập chế độ tư hữu, dẫn đến sự phân hóa giai cấp. Theo quy luật phát triển, chế độ tư hữu phát triển dẫn đến sự ra đời của sản xuất hàng hóa và phát triển việc trao đổi. Những hình thức trao đổi vật đổi vật đơn giản trước kia tỏ ra không thích hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế. Do đó dẫn đến việc ra đời một vật trung gian môi giới mà vật trung gian này thoát ly hẳn vai trò là một chủng loại hàng hóa trung gian như giai đoạn trước. Vật trung gian môi giới độc lập này có thể coi như một loại "hàng hóa đặc biệt".
Theo các tài liệu khảo cổ học hiện biết ở Việt Nam cũng như ở vùng Vân Nam (Trung Quốc) - nơi thời kỳ này có quan hệ mật thiết với Việt Nam qua đường sông Hồng, thì tiền tệ thời kỳ này có thể là ốc biển. Các di chỉ khảo cổ học đã phát hiện ra nhiều vỏ ốc biển và những mảnh vỏ ốc có đục lỗ, xâu dây. Nhiều di chỉ khảo cổ học ở Việt Nam cũng phát hiện ra các loại đồ trang sức, hoặc loại rìu có kích thước rất nhỏ được làm bằng đá quý, ngọc, cũng có ý kiến cho rằng, đây cũng có thể là một dạng tiền tệ.
Nước Âu Lạc của An Dương Vương là thời kỳ bắt đầu phát triển nhà nước chiếm hữu nô lệ. Nhưng với việc xâm chiếm, thiết lập quận huyện của nhà Tần, nhà Hán, Việt Nam bỏ qua giai đoạn phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ, bước vào xã hội phong kiến, đồng thời xã hội Việt Nam cũng bước vào giai đoạn kinh tế tiền tệ phong kiến.
3. Tiền tệ thời Bắc thuộc.
Sử ký của Tư Mã Thiên chép: Tần Thủy Hoàng năm thứ 33 "Chiếm đất Lục Lương đặt làm các quận Quế Lâm, Tượng Quận, Hải Nam". Lục Lương tức là vùng Lĩnh Nam, quận Quế Lâm ngày nay thuộc Quảng Tây, quận Hải Nam thuộc Quảng Đông, quận Hải Nam ngày nay bao gồm vùng phía Tây Nam Quảng Tây (Trung Quốc) và Bắc bộ, Trung bộ Việt Nam.
Sau khi nhà Tần đặt các quận huyện, các thủ lĩnh địa phương vẫn tiếp tục chống Tần, chiến tranh diễn ra ác liệt "3 năm không cởi giáp, dãn nỏ", nhà Tần chỉ có thể thực hành được chế độ đồn trú ở các khu vực này chứ không nắm được quyền thống trị. Do vậy ở Việt Nam từ năm 214 trước Công Nguyên đến khi nhà Tần mất vào tháng 8 năm 207 vẫn sử dụng các loại tiền tệ vỏ ốc, vật trung gian môi giới, hay vật đổi vật như trước kia, chưa phát hiện thấy có tiền của nhà Tần.
Sử liệu ghi chép: "Nhà Tần mất, Triệu Đà ở quận Nam Hải chiếm lấy vùng Quế Lâm, Tượng Quận tự lập làm Nam Việt Vương". Nước Nam Việt của Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc của An Dương Vương, đặt làm 2 quận Giao Chỉ, Cửu Chân (Bắc bộ và Trung bộ Việt Nam). Lại "Cử sứ giả đến hai quận Cửu Chân, Nhật Nam". Triệu Đà quản 2 quận này bằng cách "Dùng Lạc Tướng để trị dân như cũ". Nam Việt Vương Triệu Đà không tự đúc riêng tiền. Lúc này ở Trung Quốc nhà Tây Hán đã thành lập (năm 206 trước Công Nguyên), Việt Nam có quan hệ mua bán với nhà Hán, "các loại nông cụ bằng sắt, ngựa bò, dê" với nhà Hán, do đó có một số lượng nhỏ tiền đồng "bán lạng" thời Tây Hán được du nhập vào Việt Nam.
Năm 111 trước Công Nguyên, nhà Hán thôn tính nước Nam Việt đặt thành 9 quận Nam Hải, Hợp Phố, Đam Nhĩ, Chu Diên, Thương Ngô, Uất (Úc) Lâm, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Việt Nam hiện nay bao gồm Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, quận Giao Chỉ có 10 huyện, quận Cửu Chân có 7 huyện, quận Nhật Nam có 5 huyện. Thái thú của các quận này do chính quyền nhà Hán trực tiếp phái đến cai quản, thực hành các chính sách của chính quyền Trung Ương. Từ đó, tiền Ngũ Thù thời Hán không ngừng được du nhập vào Việt Nam, điều kiện kinh tế cũng ngày một phát triển, hình thành những khu tập thị buôn bán sầm uất.
Cuối thời Tây Hán, Vương Mãng cải cách tiền tệ, làm ra loại tiền lớn có đường kính 2 phân, nặng 12 thù viết chữ "Đại Tuyền Ngũ Thập", đồng thời cũng chế loại tiền đao. Các loại tiền này cũng được du nhập vào Việt Nam. Viên quan thuế vụ của chính quyền thuộc địa Pháp tên là Pagiot vào những năm 1924 - 1930 ở vùng Đông Sơn (tỉnh Thanh Hóa) đã khai quật được một quần thể mộ táng, trong mộ táng có rất nhiều các loại tiền thời Hán. Những năm gần đây các nhà khảo cổ học Việt Nam cũng phát hiện được rất nhiều các loại tiền thời kỳ này suốt từ miền núi phía Bắc đến Nam Trung bộ Việt Nam.
Tiền thời kỳ này gồm có: tiền Bán Lạng, tiền Ngũ Thù to, Ngũ Thù nhỏ, tiền Đao, tiền Đại Tuyền Thập Ngũ, tiền Hóa Tuyền.
Năm 220, nhà Hán mất, Trung Quốc phân thành 3 nước Nguỵ, Thục, Ngô. Năm 226, Ngô Tôn Quyền đem quân đánh Việt Nam, đặt thành 6 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Tân Xương, Vũ Bình, Cửu Đức. Thời kỳ này chiến loạn, Ngô Tôn Quyền cũng nhiều năm không đúc tiền, thu thuế bằng lúa gạo và lụa. Sau khi Ngô Tôn Quyền xưng đế 15 năm, đến năm thứ 5 niên hiệu Gia Hòa (năm 236) mới lần đầu tiên đúc tiền "Đại Tuyền Ngũ Bách", một năm sau vào năm Xích Ô thứ nhất (238), Ngô Tôn Quyền lại đúc tiền "Đại Tuyền Đương Thiên". Những loại tiền này cũng có một số lượng nhỏ được du nhập vào Giao Châu. Năm 214, quân Thục tiến vào Thành Đô, chiếm đất Tây Thục, do đó vùng 6 quận của Giao Châu cũng có giao lưu và du nhập loại tiền Ngũ Thù và Trực Bách Ngũ Thù của nhà Thục.
Năm 420, Trung Quốc bước vào thời kỳ Nam Bắc triều, vùng Giao Châu của Việt Nam lần lượt thuộc các triều đại Nam triều: Tống, Tề, Lương, Trần. Thời kỳ này chiến loạn không dứt, cuộc sống của nhân dân Giao Châu khổ cực lầm than, các cuộc khởi nghĩa liên tục nổ ra, hoạt động thương mại hầu như không có, thêm vào đó, ở Trung Nguyên thời kỳ này tiền đồng cũng rất ít, do đó "Vùng Giao Châu lấy lúa gạo và lụa để trao đổi".
Năm 581, triều Tùy được thành lập, chiếm vùng đất của nhà Lương, nhà Trần trước kia, chia Việt Nam thành 6 quận 13 huyện. Cũng năm đó, nhà Tùy đúc tiền "Khai Hoàng Ngũ Thù". Vùng Giao Châu tiếp tục sử dụng các hình thức trao đổi trước kia, những loại tiền từ thời kỳ trước, các loại vàng bạc và có thể có cả tiền của nhà Tùy.
Năm 618, nhà Đường thành lập, năm 621 đặt chức Giao Châu Tổng Quản, năm 624 đổi thành Giao Châu Đô Đốc Phủ, đến năm 679 lại đổi thành An Nam Đô hộ phủ, trị sở đặt ở Thành Giao Châu, tên "An Nam" bắt đầu từ đó xuất hiện. Thời kỳ này những kỹ thuật và thành tựu văn hóa Trung Hoa được du nhập vào Việt Nam rất nhiều, nông nghiệp, thủ công nghiệp có những bước tiến bộ nhất định, kinh tế hàng hóa phát triển, tạo cơ sở cho tiền tệ phát triển. Hiện nay ở Việt Nam phát hiện tiền thời Đường gồm có tiền Khai Nguyên Thông Bảo, Càn Nguyên Trọng Bảo, Hội Xương Khai Nguyên, trong đó chiếm số lượng nhiều nhất là loại tiền Khai Nguyên Thông Bảo, trong đó có cả những mẫu tiền chắc chắn là được đúc ở Việt Nam.
Năm 906, nhà Đường suy vong, Trung Quốc bước vào giai đoạn Ngũ Đại Thập Quốc (907 - 960). Việt Nam chủ yếu nằm trong sự khống chế của nhà Nam Hán (917 - 971). Đương thời, ý thức dân tộc của Việt Nam ngày một dâng cao, yêu cầu độc lập dân tộc trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, xã hội Việt Nam cũng đã phong kiến hóa, xuất hiện giai cấp địa chủ phong kiến và những nhân vật đại biểu, những nhân vật này có tư tưởng phân lập, mới đầu từ việc tự xưng vương, không chịu thần phục, dần dẫn đến yêu cầu xây dựng một nhà nước phong kiến dân tộc độc lập. Thời kỳ này ở Việt Nam có các loại tiền thời Ngũ Đại Thập Quốc như tiền "Càn Hanh Trọng Bảo" của nhà Nam Hán, tiền "Hán Nguyên Thông Bảo" của nhà Hậu Hán.
Năm 938, Ngô Quyền khởi binh ở vùng Ái Châu đánh bại quân Nam Hán, năm sau tự xưng vương, đặt kinh đô ở vùng Cổ Loa (ngoại thành Hà Nội), sử gọi là "Tiền Ngô Vương". Sau khi Ngô Quyền chết, con rể là Dương Tam Kha đoạt quyền tự xưng là Bình Vương. Năm 950, con của Ngô Quyền đánh đuổi Dương Tam Kha, xưng là Tấn Vương, 3 năm sau được nhà Nam Hán phong làm Tĩnh Hải Tiết Độ Sứ, sử gọi là "Hậu Ngô Vương". Sau khi Ngô Xương Văn chết, các thổ hào địa phương nổi dậy cát cứ các vùng, sử gọi là "Loạn 12 sứ quân". Ba năm sau, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất quốc gia, tự xưng là Đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt.
Từ đây, lịch sử Việt Nam bước sang một trang mới, thời kỳ xây dựng và phát triển các nhà nước phong kiến dân tộc độc lập.
4. Đặc điểm tiền tệ thời tiền sử và thời Bắc thuộc.
Tiền tệ từ thời tiền sử đến thời Bắc thuộc ở Việt Nam có những đặc điểm chính sau đây:
Quá trình phát triển của hình thức tiền tệ có tính giai cấp. Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt. Có thể tóm tắt quá trình phát triển như sau: Từ thời đại đồ đá mới đến thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên là giai đoạn chủ yếu dùng vật đổi vật; Thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ 1 trước Công Nguyên, chủ yếu dùng tiền tệ bằng vật thật như vòng ngọc, vỏ ốc; Từ đầu Công Nguyên đến thế kỷ 10 dùng các loại tiền tệ bằng kim loại, chủ yếu là các loại tiền đồng và bạc đĩnh của Trung Quốc.
Thời kỳ sử dụng tiền tệ vật thật như vỏ ốc ở Việt Nam rất ngắn, chỉ khoảng chừng 300 năm, so với các quốc gia lân cận khác là khoảng trên 1.000 năm. Đó là do trước thời Tần, xã hội Việt Nam đang ở giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy, sau đó Việt Nam bị các thế lực phong kiến phương Bắc thống trị trên 1.000 năm, trong thời gian đó liên tục diễn ra quá trình ảnh hưởng và giao lưu văn hóa do vậy đặc điểm của xã hội Việt Nam là từ xã hội nguyên thủy lên thẳng chế độ phong kiến. Việt Nam cũng trở thành quốc gia sử dụng tiền kim loại sớm nhất trong vùng Đông Nam Á.
Tiền tệ đa nguyên hóa. Từ thời tiền, sơ sử, kinh tế vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng phát triển hơn so với những khu vực khác. Đến thời Bắc thuộc, khu vực miền Bắc phát triển hơn, vùng đồng bằng phát triển hơn miền núi. Kinh tế phát triển không đồng đều, hình thành nên một nền kinh tế đa tầng giữa các vùng, miền, điều đó dẫn đến việc hình thành các hình thái tiền tệ tương ứng. Đến thời kỳ sử dụng tiền kim loại, các loại tiền vỏ ốc, thậm chí hình thức vật đổi vật vẫn còn được sử dụng. Đặc biệt là ở vùng đất phía Nam Việt Nam, mặc dù có điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên dồi dào nhưng quá trình phong kiến hóa diễn ra với tốc độ rất chậm, mặc dù từ rất sớm đã sử dụng vàng bạc làm tiền tệ, nhưng chỉ dừng lại ở trình độ tính giá cả qua trọng lượng.
Tự đúc tiền muộn. Thời Bắc thuộc, Việt Nam hầu như không tự đúc tiền, đến thời Đường mới có hiện tượng tự đúc tiền Khai Nguyên Thông Bảo. Đó là bởi, Việt Nam thời kỳ này được xem như một bộ phận của các vương triều phong kiến Trung Quốc, do vậy sử dụng các loại tiền được đúc sẵn ở chính quốc. Ngoài ra do nhu cầu về số lượng tiền đồng thời kỳ này cũng không nhiều, tiền từ Trung Quốc chuyển sang đã đủ cho nhu cầu sử dụng. Đến thời Đường, do kinh tế tiền tệ phong kiến ở Việt Nam phát triển, lượng tiền cần nhiều mới tổ chức tự đúc tiền.
Sự thống trị của các vương triều phong kiến Trung Quốc ở Việt Nam đến đầu thời Tống chấm dứt, nhưng tiền tệ của các triều đại sau này vẫn tiếp tục được lưu thông ở Việt Nam. Đó là bởi, thời kỳ đó, tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt có giá trị tự thân, tiền đồng phản ánh điều kiện của nền kinh tế tiểu nông, lượng vật chất trao đổi không nhiều, phù hợp với trình độ sản xuất phong kiến và nhu cầu của dân chúng. Số lượng tiền Trung Quốc được sử dụng có số lượng lớn hơn nhiều so với tiền tệ của các vương triều phong kiến Việt Nam.

三人行必有我师焉
Last edited by meiying on Mon 21 Aug, 2006 2:02 am, edited 2 times in total.

Chim Việt
Posts: 825
Joined: Fri 21 Jul, 2006 2:33 am
Location: Trường Sa

Post by Chim Việt » Fri 18 Aug, 2006 4:33 am

Chim Việt chào anh meiying. Meiying viết theo tiếng Việt có nghĩa là gì vậy?

南國山河南帝居

meiying
Posts: 72
Joined: Wed 24 May, 2006 2:43 pm

Post by meiying » Fri 18 Aug, 2006 4:42 am

meiying 梅英 chỉ là một cái tên thôi :D

君不见黄河之水
天上来
奔流到海不复回

Chim Việt
Posts: 825
Joined: Fri 21 Jul, 2006 2:33 am
Location: Trường Sa

Post by Chim Việt » Fri 18 Aug, 2006 5:27 am

梅英 tiếng Việt là Mai Anh; Một cái tên rất đẹp;

meiying
Posts: 72
Joined: Wed 24 May, 2006 2:43 pm

Post by meiying » Fri 18 Aug, 2006 6:35 am

Trần Trọng Khải wrote:
Chim Việt wrote:梅英 tiếng Việt là Mai Anh; Một cái tên rất đẹp;
Vậy thì đổi nick thành Mai Anh đi cho gần gủi bà con .
Các bác chẳng bình luận gì về bài viết, bình luận gì cái nick :)

Làm cách nào đổi được nick hả bác?

meiying
Posts: 72
Joined: Wed 24 May, 2006 2:43 pm

Post by meiying » Fri 18 Aug, 2006 10:13 am

Thứ nhất: Tôi post bài này lên mục thảo luận chứ không phải tài liệu tham khảo, còn việc chuyển vào mục nào chắc là do quản trị web. Nó là "ngoại truyện" :D chứ không phải tài liệu tham khảo cũng chẳng trích ở đâu vì nó chưa được xuất bản.
Thứ hai: thế nào là nick không rõ xuất xứ? tôi sử dụng nick này trên diễn đàn cũng được mấy tháng rồi cơ mà. Nó có khác gì tomcat, santa hay duc4eyes đâu? mấy chữ ở dưới bài không phải là chữ ký chỉ là những câu mà tôi thích mọi người vẫn làm thế trong các trang web. 三人行必有我师焉 "Tam nhân hành tất hữu ngã sư yên" 1 câu của Khổng Tử, có nghĩa "Ba người đi trên đường tất có thày ta ở đó". Diễn đàn này là nơi có nhiều người, nhiều ý tưởng nên tôi cảm thán mà thốt lên như vậy thôi. Nếu các bạn không thích, tôi sẽ không sử dụng như vậy trên diễn đàn nữa.
Thứ ba: không phải là trích dẫn như đã nói nên chắc là không vi phạm nội quy rồi :D Trong bài chỉ có những đoạn trong ngoặc kép là trích dẫn từ các nguồn sử liệu chẳng hạn cuốn "Lịch sử Việt Nam" NXB HN 1971; "Hồ Chí Minh tuyển tập"; "Giao Châu ngoại vực ký"; "Sử ký - Nam Việt liệt truyện"; "Hoài Nam Tử"; "Tùy Thư - Thục hóa chí"; ... Vì điều kiện post bài lên diễn đàn phải convert sang unicode nên những phần chú dẫn dưới mỗi trang mất đi. Nếu bạn cần tôi sẽ sửa đưa vào phần chính văn sau mỗi câu trích.

User avatar
Ngọc Hải
Posts: 1320
Joined: Thu 03 Aug, 2006 4:18 am
Location: Hà Nội - Việt Nam

Post by Ngọc Hải » Fri 18 Aug, 2006 3:26 pm

Ngọc Hải rất thán phục các bác các anh đã ứng xử trên diễn đàn rất văn hóa và trọng thị . Đúng là chơi tiền cổ là chơi chữ của người xưa, thế hệ chúng tôi đi sau sẽ cố gắng học tập các bác để càng thêm yêu những gì mình học tập được . Tôi có anh bạn là 1 quan chức tên là Kiều Quý Cư cái tên rất đẹp do bố là 1 ông đồ nho đặt cho , khi ra nước ngoài người ta cứ goi : Mr Cu ... Thật là cười ra nước mắt .
Mong Meiying tiếp tục công bố bản thảo của mình cho anh em chiêm ngưỡng vì tôi biết anh đã có công viết sách và trong đó cũng có cả hiện vật của anh em sưu tầm trong cả nước . Bây giờ mà tái bản thì hiện vật sễ phong phú hơn nhiều có phải không Meiying .
Tiền lưu hành tại Việt Nam trong thời kỳ bắc thuộc các tài liệu Việt Nam viết sơ sài quá . Các bác góp hiện vật để hình thành chuyên mục này nhé
cảm ơn các bác các anh

Chim Việt
Posts: 825
Joined: Fri 21 Jul, 2006 2:33 am
Location: Trường Sa

Post by Chim Việt » Sat 19 Aug, 2006 5:18 am

Mới đầu tưởng anh Meiying là chim lạ, nên Chim Việt loay hoay giàn trận. Ngờ đâu cũng là chim nhà. Thật vui mừng tiếp đón. Vậy chúng ta có thêm một cánh tay.

Tài liệu hết sức hửu ích xin thường xuyên đóng góp.

viet-numis
Site Admin
Posts: 1345
Joined: Mon 17 Apr, 2006 2:44 pm

Post by viet-numis » Sun 20 Aug, 2006 9:41 pm

Đúng là viet-numis đã chuyển vào phần tài liệu tham khảo vì hiện chưa có mục nào thích hợp hơn.

Chim Việt
Posts: 825
Joined: Fri 21 Jul, 2006 2:33 am
Location: Trường Sa

Post by Chim Việt » Mon 21 Aug, 2006 7:33 am

Tài liệu của anh Meiying phong phú quá. Tuy tôi đã mua được cuốn sách và đã đọc qua nhiều lần nhưng vẫn say mê những tài liệu mà anh đưa lên Diển Đàn. Chắn các thành viên cũng như tôi đang nghiền ngẩm.

Post Reply

Return to “Tài liệu tham khảo”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests