Dự thảo luật lưu trữ !!!

Các tài liệu phục vụ cho việc sưu tầm
Post Reply
User avatar
gokien
Posts: 1961
Joined: Mon 18 Sep, 2006 3:40 am
Location: hai phong
Contact:

Dự thảo luật lưu trữ !!!

Post by gokien » Tue 16 Nov, 2010 8:21 am

Hoạt động sưu tầm có nhiều mảng còn mờ ảo rất cần được tra cứu tham khảo các tài liệu quý.

Hy vọng trong tương lai người chơi được hưởng lợi ích từ việc này.

Luật lưu trữ trong tương lai chắc sẽ có, hy vọng là 2011, đây là bản dự thảo


QUỐC HỘI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Luật số: / /QH12

LUẬT
LƯU TRỮ

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Lưu trữ.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về trách nhiệm của Nhà nước; quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức và công dân trong hoạt động lưu trữ.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Luật này áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức) và công dân Việt Nam; tổ chức và người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
2. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên tham gia có quy định về lưu trữ khác với Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. “Hoạt động lưu trữ” là hoạt động về thu thập, bảo quản, khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ và quản lý nhà nước về lưu trữ.
2. “Tài liệu lưu trữ” là bản gốc, bản chính hoặc bản sao hợp pháp của tài liệu có giá trị đối với Quốc gia và xã hội; được hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; không phân biệt thời gian, nơi bảo quản, hình thức ghi tin và vật mang tin; được lựa chọn giữ lại bảo quản phục vụ nghiên cứu khoa học, lịch sử và hoạt động thực tiễn.
3. “Tài liệu lưu trữ quý, hiếm” là tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt về thông tin hoặc vật mang tin và là bản không thể thay thế.
4. “Tài liệu lưu trữ công” là tài liệu lưu trữ được hình thành trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội- nghề nghiệp có sử dụng kinh phí nhà nước, tổ chức kinh tế nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân hoặc do Nhà nước có được một cách hợp pháp.
5. “Tài liệu lưu trữ tư” là tài liệu lưu trữ được hình thành trong hoạt động của tổ chức xã hội và tổ chức xã hội- nghề nghiệp không sử dụng kinh phí nhà nước, tổ chức tôn giáo, tổ chức kinh tế tập thể, tổ chức kinh tế tư nhân và của các cá nhân, gia đình, dòng họ hoặc do chủ sở hữu có được một cách hợp pháp.
6. “Lưu trữ cơ quan” là tổ chức lưu trữ có nhiệm vụ thu thập, bảo quản và phục vụ sử dụng tài liệu lưu trữ của cơ quan, tổ chức.
7. “Lưu trữ lịch sử” là tổ chức lưu trữ công có nhiệm vụ thu thập, bảo quản và phục vụ sử dụng tài liệu lưu trữ được tiếp nhận từ lưu trữ cơ quan và từ các nguồn tài liệu khác.
8. “Hồ sơ nhân sự” là toàn bộ tài liệu hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức về một cá nhân, phản ánh quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Điều 4. Nguyên tắc quản lý lưu trữ
1. Công tác lưu trữ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ.
2. Tài liệu lưu trữ phải được bảo quản an toàn.
3. Tài liệu lưu trữ phải được phát huy giá trị vì lợi ích chung của Quốc gia và xã hội.
Điều 5. Chính sách của Nhà nước về lưu trữ
1. Nhà nước bảo đảm ngân sách, nguồn nhân lực và các điều kiện khác đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá công tác lưu trữ nhằm bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ công.
2. Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư trong việc đăng ký thống kê nhà nước, hiến tặng, ký gửi, bán tài liệu lưu trữ cho Nhà nước.
3. Nhà nước khuyến khích xã hội hoá các hoạt động lưu trữ.
4. Nhà nước tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong hoạt động lưu trữ.
Điều 6. Xã hội hoá hoạt động lưu trữ
1. Nhà nước cho phép các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động dịch vụ lưu trữ:
a) Nghiên cứu, chuyển giao công nghệ lưu trữ;
b) Tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ lưu trữ;
c) Sản xuất, cung ứng các trang thiết bị, vật tư phục vụ cho hoạt động lưu trữ;
d) Chỉnh lý, bảo quản, tu bổ, phục chế, khử trùng, khử axít; số hoá tài liệu lưu trữ;
đ) Tra tìm, cung cấp thông tin và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ.
2. Các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động dịch vụ lưu trữ phải bảo đảm yêu cầu nghiệp vụ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và chất lượng sản phẩm theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Điều 7. Các hành vi bị cấm
1. Tự ý cung cấp, sao chép, công bố tài liệu lưu trữ công;
2. Làm hỏng, làm mất, huỷ hoại, tiêu huỷ trái phép tài liệu lưu trữ công;
3. Chiếm đoạt, mua, bán, chuyển giao trái phép tài liệu lưu trữ;
4. Làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung tài liệu lưu trữ;
5. Cố ý để tài liệu lưu trữ đang gặp nguy hiểm mà không có biện pháp giải nguy kịp thời.
6. Tự ý mang tài liệu lưu trữ ra nước ngoài.
Chương II
QUẢN LÝ TÀI LIỆU LƯU TRỮ
Mục 1
QUẢN LÝ HỒ SƠ, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC
VÀ QUẢN LÝ TÀI LIỆU LƯU TRỮ TƯ
Điều 8. Trách nhiệm lập và quản lý hồ sơ, tài liệu tại cơ quan, tổ chức
1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm chỉ đạo việc lập và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan theo quy định.
2. Cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm lập hồ sơ và lựa chọn hồ sơ, tài liệu để nộp lưu vào Lưu trữ cơ quan.
3. Cơ quan lưu trữ trung ương thuộc Bộ Nội vụ hướng dẫn nghiệp vụ lập và quản lý hồ sơ, tài liệu tại cơ quan, tổ chức.
Điều 9. Thời hạn nộp lưu tài liệu vào Lưu trữ cơ quan
1. Tài liệu hành chính: trong thời hạn 01 năm kể từ năm công việc kết thúc.
2. Tài liệu nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học công nghệ: trong thời hạn 01 năm kể từ năm công trình khoa học được nghiệm thu chính thức.
3. Tài liệu xây dựng cơ bản: trong thời hạn 01 năm kể từ năm quyết toán công trình xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
4. Tài liệu phim, ảnh, phim điện ảnh, ghi âm, ghi hình, tài liệu điện tử: trong thời hạn 01 năm kể từ khi công việc kết thúc.
5. Hồ sơ nhân sự: trong thời hạn 01 năm kể từ năm đương sự nghỉ hưu hoặc thôi việc.
Điều 10. Tổ chức và nhiệm vụ của Lưu trữ cơ quan
1. Cơ quan, tổ chức pháp nhân có trách nhiệm lập Lưu trữ cơ quan.
2. Lưu trữ cơ quan có nhiệm vụ:
a) Hướng dẫn cán bộ, công chức, viên chức trong việc lập hồ sơ và chuẩn bị hồ sơ, tài liệu nộp lưu;
b) Thu thập hồ sơ, tài liệu đến hạn nộp lưu;
c) Chỉnh lý, xác định giá trị, thống kê, sắp xếp hồ sơ, tài liệu;
d) Bảo quản hồ sơ, tài liệu;
đ) Phục vụ khai thác, sử dụng tài liệu;
e) Lựa chọn hồ sơ, tài liệu nộp lưu vào Lưu trữ lịch sử theo quy định;
g) Làm thủ tục tiêu huỷ tài liệu hết giá trị.
Điều 11. Quản lý tài liệu lưu trữ trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị hành chính chia, tách, sáp nhập, giải thể; doanh nghiệp nhà nước phá sản hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu
Cơ quan, tổ chức, đơn vị hành chính khi chia, tách, sáp nhập, giải thể; doanh nghiệp nhà nước phá sản hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu thực hiện việc giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ theo quy định của Bộ Nội vụ.
Điều 12. Quản lý tài liệu lưu trữ tư
1. Chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư được lập Lưu trữ tư theo quy định.
2. Nhà nước khuyến khích chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư đăng ký thống kê tài liệu lưu trữ với Lưu trữ lịch sử.
Tài liệu lưu trữ đăng ký thống kê thuộc diện quý, hiếm sẽ được Nhà nước giúp đỡ về kỹ thuật bảo quản và tạo điều kiện để phát huy giá trị. Trường hợp những tài liệu lưu trữ này có nguy cơ bị huỷ hoại nghiêm trọng thì Nhà nước có quyền áp dụng biện pháp trưng mua.
2. Nhà nước khuyến khích chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư hiến tặng tài liệu lưu trữ quý, hiếm cho Nhà nước. Người hiến tặng tài liệu quý, hiếm được Nhà nước vinh danh và được hưởng các quyền lợi theo quy định.
3. Chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư được ký gửi tài liệu lưu trữ không thuộc diện quý, hiếm vào Lưu trữ lịch sử nhưng phải trả phí bảo quản.
4. Chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư được bán tài liệu lưu trữ quý, hiếm. Việc mua, bán tài liệu lưu trữ tư được thực hiện theo thoả thuận hoặc thông qua đấu giá.
5. Chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư có trách nhiệm bảo vệ, bảo quản tài liệu lưu trữ của mình và tạo điều kiện để phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quý, hiếm.
6. Bộ Nội vụ hướng dẫn thủ tục lập Lưu trữ tư; đăng ký thống kê, ký gửi, mua bán tài liệu lưu trữ tư.




Mục 2
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI LIỆU
Điều 13. Xác định giá trị tài liệu
1. Các cơ quan, tổ chức phải xác định giá trị tài liệu hình thành trong hoạt động để lựa chọn tài liệu có giá trị giữ lại bảo quản và loại ra những tài liệu hết giá trị để tiêu huỷ.
2. Khi xác định giá trị tài liệu, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức phải thành lập Hội đồng xác định giá trị tài liệu. Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn cho người đứng đầu trong việc quyết định giữ lại bảo quản hồ sơ, tài liệu có giá trị và loại ra tiêu hủy tài liệu hết giá trị.
Thành phần của Hội đồng xác định giá trị tài liệu gồm:
a) Chánh Văn phòng cơ quan, tổ chức ở trung ương; Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đối với các cơ quan, tổ chức khác: Chủ tịch Hội đồng;
b) Đại diện lãnh đạo đơn vị có tài liệu: Uỷ viên;
c) Đại diện của Lưu trữ cơ quan: Uỷ viên.
Điều 14. Huỷ tài liệu hết giá trị
1. Thẩm quyền quyết định huỷ tài liệu hết giá trị được quy định như sau:
a) Người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về lưu trữ các cấp quyết định huỷ tài liệu hết giá trị bảo quản tại Lưu trữ lịch sử cùng cấp;
b) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nộp lưu vào Lưu trữ lịch sử các cấp quyết định huỷ tài liệu hết giá trị bảo quản tại cơ quan, tổ chức sau khi có ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước về lưu trữ cùng cấp;
c) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức không thuộc nguồn nộp lưu vào Lưu trữ lịch sử quyết định huỷ tài liệu hết giá trị bảo quản tại cơ quan, tổ chức sau khi có ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan, tổ chức cấp trên.
2. Cơ quan lưu trữ trung ương thuộc Bộ Nội vụ hướng dẫn tổ chức hủy tài liệu hết giá trị.
Mục 3
THU THẬP TÀI LIỆU VÀO LƯU TRỮ LỊCH SỬ
Điều 15. Hệ thống lưu trữ lịch sử
Hệ thống lưu trữ lịch sử bao gồm:
1. Lưu trữ lịch sử thuộc Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia thuộc cơ quan lưu trữ trung ương Bộ Nội vụ.
3. Trung tâm Lưu trữ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Trung tâm Lưu trữ tỉnh).
4. Lưu trữ lịch sử thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao.
Điều 16. Thẩm quyền thu thập tài liệu của Lưu trữ lịch sử
1. Lưu trữ lịch sử thuộc Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thu thập tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động của cơ quan Đảng, tổ chức chính trị- xã hội ở Trung ương trong quá khứ và hiện tại; tài liệu về thân thế, sự nghiệp và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của các nhân vật lịch sử, tiêu biểu của Đảng.
2. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia thuộc Cơ quan lưu trữ trung ương Bộ Nội vụ thu thập tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức kinh tế ở Trung ương trong quá khứ, hiện tại và của các nhân vật lịch sử tiêu biểu.
3. Trung tâm Lưu trữ tỉnh thu thập tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và của các nhân vật lịch sử tiêu biểu ở cấp tỉnh, cấp huyện trong quá khứ, hiện tại.
4. Lưu trữ lịch sử thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao thu thập tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức của ngành ở Trung ương.
Điều 17. Lưu trữ cấp xã
Văn phòng Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm lưu trữ tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức cấp xã.
Điều 18. Thời hạn nộp lưu tài liệu vào Lưu trữ lịch sử
1. Tài liệu lưu trữ hành chính, tài liệu nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học công nghệ, tài liệu xây dựng cơ bản: trong thời hạn 10 năm kể từ năm công việc kết thúc.
2. Tài liệu lưu trữ phim, ảnh, phim điện ảnh, tài liệu ghi âm, ghi hình, tài liệu điện tử và tài liệu khác: trong thời hạn 02 năm kể từ năm công việc kết thúc.
3. Tài liệu lưu trữ của Đảng và các tổ chức chính trị-xã hội: trong thời hạn 30 năm kể từ năm công việc kết thúc.
4. Tài liệu lưu trữ các ngành Công an, Ngoại giao, Quốc phòng: trong thời hạn 30 năm kể từ năm công việc kết thúc.
5. Hồ sơ nhân sự: trong thời hạn 30 năm kể từ năm đương sự nghỉ hưu hoặc thôi việc.
Điều 19. Trách nhiệm giao, nhận tài liệu vào Lưu trữ lịch sử
1. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức thuộc diện nộp lưu:
a) Chỉnh lý tài liệu trước khi giao nộp;
b) Thực hiện giải mật đối với tài liệu nộp lưu đóng dấu mật;
c) Giao nộp tài liệu và các công cụ thống kê, tra cứu kèm theo vào Lưu trữ lịch sử theo đúng thời hạn quy định.
2. Trách nhiệm của Lưu trữ lịch sử:
a) Trình cơ quan quản lý lưu trữ cùng cấp ban hành Danh mục nguồn nộp lưu và Danh mục thành phần tài liệu nộp lưu;
b) Hướng dẫn các cơ quan, tổ chức thuộc Danh mục nguồn nộp lưu chuẩn bị tài liệu nộp lưu;
c) Chuẩn bị kho tàng, phương tiện và tổ chức tiếp nhận tài liệu nộp lưu.
3. Cơ quan lưu trữ trung ương thuộc Bộ Nội vụ hướng dẫn việc giao nộp tài liệu vào Lưu trữ lịch sử.
Mục 4
BẢO QUẢN, THỒNG KÊ TÀI LIỆU LƯU TRỮ
Điều 20. Trách nhiệm bảo quản tài liệu lưu trữ
1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm:
a) Xây dựng hoặc bố trí kho lưu trữ theo quy định của Bộ Nội vụ;
b) Trang bị các thiết bị, phương tiện cần thiết và thực hiện các biện pháp kỹ thuật bảo quản tài liệu lưu trữ theo hướng dẫn của Cơ quan lưu trữ trung ương thuộc Bộ Nội vụ.
2. Trường hợp cơ quan, tổ chức chưa có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a và b của khoản 1 Điều này thì được ký gửi tài liệu vào Lưu trữ lịch sử nhưng phải trả phí theo quy định của Bộ Tài chính.
Điều 21. Quản lý tài liệu lưu trữ quý, hiếm
1. Tài liệu lưu trữ quý, hiếm không phân biệt hình thức sở hữu phải được đăng ký với cơ quan lưu trữ trung ương thuộc Bộ Nội vụ.
2. Danh mục tài liệu lưu trữ quý, hiếm do Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt.
3. Tài liệu lưu trữ quý, hiếm được lập bản sao bảo hiểm; được kiểm kê và bảo vệ, bảo quản theo chế độ đặc biệt.
4. Bộ Nội vụ quy định thủ tục đăng ký, công nhận tài liệu lưu trữ quý, hiếm.
Điều 22. Thống kê nhà nước về lưu trữ
1. Các cơ quan, tổ chức có tài liệu lưu trữ phải thực hiện chế độ báo cáo thống kê về lưu trữ theo quy định.
2. Bộ Nội vụ quy định chế độ thống kê về lưu trữ.
Mục 5
KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ
Điều 23. Quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ công trừ tài liệu hạn chế sử dụng tại Lưu trữ lịch sử theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng tài liệu lưu trữ có nghĩa vụ:
a) Thực hiện đúng các quy định của pháp luật hiện hành về khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ;
b) Chỉ dẫn xuất xứ nơi bảo quản khi công bố, giới thiệu, trích dẫn tài liệu lưu trữ;
c) Thực hiện quyền tác giả và các quyền khác theo quy định pháp luật;
d) Trả phí theo quy định của Bộ Tài chính.
3. Cơ quan lưu trữ, bảo tàng, thư viện và các cơ quan khác có tài liệu lưu trữ có trách nhiệm:
a) Tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ đang trực tiếp quản lý;
b) Không được từ chối việc khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ công khi không có lý do chính đáng;
c) Định kỳ hàng năm rà soát, công bố tài liệu lưu trữ thuộc Danh mục bí mật nhà nước được phép khai thác, sử dụng.
Điều 24. Tài liệu hạn chế sử dụng tại Lưu trữ lịch sử
1. Tài liệu lưu trữ hạn chế sử dụng tại Lưu trữ lịch sử bao gồm:
a) Tài liệu thuộc Danh mục bí mật nhà nước;
b) Tài liệu lưu trữ liên quan bí mật đời tư;
c) Tài liệu lưu trữ khác xét thấy chưa thích hợp cho việc công khai.
Cơ quan quản lý nhà nước về lưu trữ cùng cấp có trách nhiệm định kỳ công bố Danh mục tài liệu lưu trữ nêu trên sau thời hạn 30 năm kể từ năm công việc kết thúc.
2. Tài liệu lưu trữ quý hiếm hoặc tài liệu lưu trữ có nguy cơ hư hỏng chỉ được phép sử dụng bản sao.
Điều 25. Thủ tục khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ
1. Người khai thác, sử dụng tài liệu tại Lưu trữ lịch sử vì mục đích công vụ phải có một trong các giấy tờ sau: giấy giới thiệu hoặc văn bản đề nghị của cơ quan, tổ chức nơi công tác; vì mục đích cá nhân phải có chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu (nếu là người nước ngoài).
2. Thủ tục khai thác, sử dụng tài liệu tại Lưu trữ cơ quan do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quy định.
Điều 26. Thẩm quyền cho phép sử dụng tài liệu lưu trữ
1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức cho phép khai thác, sử dụng tài liệu bảo quản tại Lưu trữ cơ quan.
2. Người đứng đầu Lưu trữ lịch sử cho phép khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ đang trực tiếp quản lý, trừ tài liệu lưu trữ thuộc Danh mục tài liệu hạn chế sử dụng.
3. Người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về lưu trữ các cấp phê duyệt Danh mục tài liệu hạn chế sử dụng bảo quản tại Lưu trữ lịch sử cùng cấp và cho phép sử dụng tài liệu lưu trữ thuộc Danh mục này.
Điều 27. Chứng thực lưu trữ
1. Chứng thực lưu trữ là xác nhận của cơ quan lưu trữ có thẩm quyền về bản sao từ tài liệu lưu trữ do cơ quan đó đang quản lý.
2. Bản sao được chứng thực lưu trữ có giá trị pháp lý như tài liệu lưu trữ gốc để giao dịch và có giá trị chứng cứ trước toà. Những tình tiết, sự kiện trong bản sao được chứng thực lưu trữ không phải chứng minh trừ trường hợp bị toà án tuyên bố là vô hiệu.
3. Việc chứng thực lưu trữ do Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Tư pháp quy định.
Điều 28. Công bố tài liệu lưu trữ
1. Công bố tài liệu lưu trữ là lần đầu công khai ra công chúng về toàn bộ hay một phần nội dung tài liệu lưu trữ thông qua các hình thức:
a) Xuất bản các ấn phẩm lưu trữ;
b) Giới thiệu tài liệu lưu trữ trên các phương tiện thông tin đại chúng và nơi công cộng;
c) Triển lãm, trưng bày tài liệu lưu trữ;
d) Sử dụng tài liệu lưu trữ trong các công trình nghiên cứu;
đ) Cung cấp bản sao tài liệu lưu trữ.
2. Tài liệu lưu trữ công do người đứng đầu cơ quan lưu trữ công bố theo quy định của pháp luật.
3. Việc công bố tài liệu lưu trữ không được làm tổn hại đến lợi ích quốc gia và lợi ích hợp pháp của tập thể, cá nhân.
4. Chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư được công bố tài liệu lưu trữ tư theo quy định pháp luật.
5. Chính phủ quy định về công bố tài liệu lưu trữ.
Điều 29. Mang tài liệu lưu trữ ra nước ngoài
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được mang tài liệu lưu trữ ra nước ngoài để trưng bày, triển lãm, phục vụ hoạt động công vụ và nhu cầu chính đáng của cá nhân.
2. Chính phủ quy định việc mang tài liệu tài liệu lưu trữ ra nước ngoài.

Chương III
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LƯU TRỮ
Điều 30. Nội dung quản lý nhà nước về lưu trữ
1. Xây dựng pháp luật và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển lưu trữ;
2. Ban hành, phổ biến, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các chế độ quy định về lưu trữ;
3. Quản lý tài liệu lưu trữ theo thẩm quyền;
4. Thống kê nhà nước về lưu trữ;
5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ;
6. Quản lý nghiên cứu khoa học, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong hoạt động lưu trữ; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức về lưu trữ;
7. Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về lưu trữ;
8. Thanh tra hoạt động lưu trữ.
Điều 31. Trách nhiệm quản lý nhà nước về lưu trữ
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lưu trữ.
2. Bộ Nội vụ có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lưu trữ.
Cơ quan lưu trữ trung ương thuộc Bộ Nội vụ giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ thực hiện quản lý nhà nước về lưu trữ.
3. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về lưu trữ ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ.
4. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện quản lý về lưu trữ đối với các cơ quan, tổ chức trực thuộc.
Chính phủ quy định hệ thống tổ chức lưu trữ các cấp.
Điều 32. Hợp tác quốc tế về lưu trữ
1. Các cơ quan, tổ chức thực hiện hợp tác về lưu trữ với cơ quan, tổ chức nước ngoài và tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và bảo đảm lợi ích quốc gia.
2. Nội dung hợp tác quốc tế về lưu trữ bao gồm:
a) Ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế song phương, đa phương về lưu trữ;
b) Thực hiện chương trình, dự án về lưu trữ;
c) Tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học về lưu trữ;
d) Trao đổi chuyên gia, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ;
đ) Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ thông qua triển lãm quốc tế; biên soạn, xuất bản ấn phẩm lưu trữ;
e) Trao đổi tư liệu nghiệp vụ và chuyển giao công nghệ lưu trữ;
g) Trao đổi Danh mục tài liệu lưu trữ và bản sao tài liệu lưu trữ.
Điều 33. Kinh phí đầu tư cho lưu trữ
1. Nhà nước bảo đảm kinh phí đáp ứng yêu cầu quản lý tài liệu lưu trữ; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ.
2. Nguồn kinh phí đầu tư cho lưu trữ bao gồm:
a) Ngân sách nhà nước;
b) Các khoản thu từ phí dịch vụ các hoạt động lưu trữ và sử dụng tài liệu lưu trữ;
c) Tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
3. Những công việc được đầu tư kinh phí bao gồm:
a) Xây dựng, cải tạo kho bảo quản tài liệu lưu trữ;
b) Mua sắm các thiết bị, phương tiện bảo quản tài liệu lưu trữ;
c) Sưu tầm, mua tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt và quý hiếm ở trong và ngoài nước;
d) Phân loại, chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu;
đ) Thực hiện các biện pháp kỹ thuật bảo quản tài liệu lưu trữ;
e) Tu bổ, phục chế, lập bản sao bảo hiểm tài liệu lưu trữ;
g) Công bố, thông báo, giới thiệu, trưng bày, triển lãm tài liệu lưu trữ;
h) Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác lưu trữ;
i) Những công việc khác được đầu tư theo quy định của pháp luật.
4. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bố trí kinh phí theo quy định cho các công việc tại khoản 2 của Điều này.
Điều 34. Thanh tra chuyên ngành lưu trữ
1. Thanh tra chuyên ngành lưu trữ được thành lập ở cơ quan lưu trữ trung ương thuộc Bộ Nội vụ.
2. Thanh tra chuyên ngành lưu trữ có nhiệm vụ:
a) Thanh tra việc chấp hành pháp luật về lưu trữ;
b) Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về lưu trữ;
c) Tiếp nhận và kiến nghị giải quyết khiếu nại, tố cáo về lưu trữ;
d) Kiến nghị các biện pháp đảm bảo thi hành pháp luật về lưu trữ.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 35. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày……
Những quy định trái với Luật này đều bị bãi bỏ.
Điều 36. Hướng dẫn thi hành
Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành các Điều 27, 28 và 30 của Luật này.
Bộ Nội vụ hướng dẫn chi tiết thi hành các Điều 10, 11, 20, 21, 26 của Luật này.
Cơ quan lưu trữ trung ương thuộc Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành các Điều 7, 12, 13, 18, 19 của Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá…kỳ họp thứ… thông qua ngày…tháng…năm …

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI


===================

bổ trưởng Bộ Nội Vụ cũng đã có tờ trình

===================

BỘ NỘI VỤ

Số: ………/ TTr-BNV
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày ……tháng… năm 2009

TỜ TRÌNH CHÍNH PHỦ
Về Dự thảo Luật Lưu trữ

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII và năm 2008, theo phân công của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 25/QĐ-TTg ngày 07 tháng 01 năm 2008, Bộ Nội vụ được giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng Dự thảo Luật Lưu trữ.
Bộ Nội vụ kính trình Chính phủ Dự thảo Luật Lưu trữ với các nội dung chủ yếu như sau:
I. Sự cần thiết ban hành Luật Lưu trữ
Ngày 04 tháng 4 năm 2001, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia. Pháp lệnh được ban hành đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng, tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý thống nhất công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ. Sau 8 năm triển khai thực hiện, Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia đã từng bước đi vào cuộc sống, phát huy được hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ, được thể hiện qua những kết quả nổi bật sau đây:
- Nhận thức của lãnh đạo các cấp, các ngành về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ đã được nâng lên rõ rệt, tạo điều kiện phát triển sự nghiệp lưu trữ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước;
- Hoạt động quản lý nhà nước về lưu trữ được tổ chức thực hiện có nhiều tiến bộ, thể hiện qua việc đã ban hành được nhiều văn bản quản lý, chỉ đạo và tổ chức tốt việc kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ;
- Đội ngũ cán bộ lưu trữ từng bước được tăng cường; công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ lưu trữ được chú trọng, trình độ chuyên môn của cán bộ lưu trữ được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức trong giai đoạn hiện nay;
- Cơ sở vật chất như kho tàng, trang thiết bị bảo quản tài liệu lưu trữ và nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào công tác lưu trữ từng bước được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư;
- Tài liệu lưu trữ tích đống tại các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, các cơ quan, tổ chức trung ương và địa phương từng bước được phân loại, chỉnh lý, xác định giá trị và đã được chú ý bảo vệ, bảo quản trong kho lưu trữ;
- Tài liệu lưu trữ nhìn chung được tổ chức khai thác, sử dụng phát huy hiệu quả và thực sự đã trở thành tài sản quý giá phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bên cạnh những kết quả nói trên, trong quá trình thi hành Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia vẫn còn bộc lộ một số bất cập trước yêu cầu bảo vệ, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và yêu cầu hội nhập quốc tế, cụ thể là:
1. Các văn bản pháp luật về lưu trữ và liên quan đến lưu trữ đã có, nhưng chưa thống nhất và đồng bộ
Đến nay, văn bản quy phạm pháp luật cao nhất về lưu trữ là Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001. Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia đã điều chỉnh nhiều mối quan hệ phát sinh trong hoạt động lưu trữ, nhưng vẫn còn một số quan hệ chưa được điều chỉnh như vấn đề xã hội hoá hoạt động lưu trữ trong nền kinh tế nhiều thành phần, vấn đề hội nhập quốc tế, việc tiếp cận thông tin lưu trữ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; hiện đại hoá công tác lưu trữ…
Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành mới một số luật như Luật Di sản văn hóa năm 2001, Luật Xuất bản năm 2004, Luật Điện ảnh năm 2006, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật Công chứng năm 2006…(được ban hành sau Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia). Các Luật này có điều chỉnh một số quan hệ liên quan đến lưu trữ.
Để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về lưu trữ phù hợp với Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và các luật khác có liên quan đến lưu trữ, đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật nên việc nâng cấp Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia thành Luật Lưu trữ là yêu cầu cần thiết.
2. Những bất cập và những vấn đề mới nẩy sinh trong thực tiễn công tác lưu trữ
a) Về tổ chức quản lý nhà nước về lưu trữ
Hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại trên thực tế hai hệ thống lưu trữ. Đó là hệ thống lưu trữ của Đảng do Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng quản lý và hệ thống lưu trữ của Nhà nước do Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước thuộc Bộ Nội vụ quản lý. Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng đã và đang thực hiện cả chức năng quản lý nhà nước về lưu trữ không chỉ với các tổ chức thuộc hệ thống Đảng mà cả với các tổ chức chính trị- xã hội và các cơ quan song trùng lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Việc hai cơ quan cùng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lưu trữ đã và đang tạo ra sự không thống nhất trong chỉ đạo nghiệp vụ lưu trữ và trách nhiệm chính trong thực hiện quản lý nhà nước về lưu trữ chưa tập trung thống nhất.
Với hai hệ thống quản lý lưu trữ nêu trên, nên ở địa phương song song tồn tại hai hệ thống Lưu trữ lịch sử (cấp tỉnh có Trung tâm Lưu trữ tỉnh và Kho Lưu trữ Văn phòng tỉnh uỷ; cấp huyện có Lưu trữ huyện và Kho Lưu trữ huyện uỷ). Việc này không chỉ làm cho lực lượng cán bộ lưu trữ, mà cả tài liệu lưu trữ lịch sử của địa phương bị phân tán mà hậu quả là đã làm hạn chế việc phát huy giá trị tài liệu lưu trữ và gây nên những lãng phí trong đầu tư xây dựng kho lưu trữ chuyên dụng.
Mặt khác, Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia chưa quy định cụ thể về vị trí, thẩm quyền của thanh tra lưu trữ và các chế tài xử lý vi phạm nên hoạt động thanh tra lưu trữ còn rất hạn chế. Công tác thanh tra, kiểm tra mới dừng ở việc chỉ ra những thiếu sót về nghiệp vụ mà chưa thực hiện được việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các vi phạm pháp luật về lưu trữ. Và cũng do chưa có quy định cụ thể nên thanh tra lưu trữ chưa thể thực hiện được ở một số nơi và một số lĩnh vực có hoạt động lưu trữ.
b) Yêu cầu về minh bạch, công khai và quyền được tiếp cận thông tin lưu trữ
Để tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện quyền được tiếp cận thông tin lưu trữ, Luật Lưu trữ cần quy định rõ các vấn đề như: thời hạn công bố; chế độ giải mật tài liệu lưu trữ; danh mục tài liệu hạn chế sử dụng; thẩm quyền cho phép sử dụng tài liệu lưu trữ; quy định về việc sao, chứng thực, công bố tài liệu lưu trữ; khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ qua mạng; việc mang tài liệu lưu trữ ra nước ngoài…
c) Xã hội hóa các hoạt động lưu trữ
Cũng như đối với các ngành, lĩnh vực khác trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước không thể đầu tư và trực tiếp thực hiện được tất cả các hoạt động dịch vụ, trong đó có dịch vụ lưu trữ. Do vậy, một số hoạt động lưu trữ như tư vấn nghiệp vụ lưu trữ, đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp trang thiết bị, chỉnh lý tài liệu…có thể chuyển giao cho các thành phần khác trong xã hội thực hiện, có sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Điều đó hoàn toàn phù hợp với xu hướng xã hội hoá các dịch vụ công trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, vấn đề này phải được pháp luật công nhận và quy định cụ thể.
d) Về nhận thức của xã hội, đặc biệt ý thức trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, các ngành và người đứng đầu cơ quan, tổ chức đối với công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ.
Thực tế hiện nay, số lượng tài liệu lưu trữ giữ được trong các Lưu trữ lịch sử còn quá ít so với bề dày lịch sử của dân tộc Việt Nam, do vậy nhiều vấn đề của lịch sử chưa có đầy đủ cơ sở để làm sáng tỏ.
Hơn nữa, tuy Nhà nước đã ban hành khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn nghiệp vụ lưu trữ, nhưng trong thực tiễn, việc triển khai thực hiện các chế độ, quy định của Nhà nước chưa nghiêm. Tình trạng tài liệu tích đống trong kho không được phân loại, lập hồ sơ, xác định giá trị hoặc bị hư hỏng vẫn còn khá phổ biến, nhất là ở các cấp chính quyền cơ sở, các đơn vị sự nghiệp và ở các đơn vị sản xuất kinh doanh. Vì vậy, một trong những vấn đề cần được luật hoá một cách cụ thể là trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong việc quản lý, chỉ đạo và tổ chức các hoạt động nghiệp vụ đối với tài liệu lưu trữ thuộc phạm vi quản lý, đáp ứng yêu cầu hoạt động thực tiễn và nghiên cứu khoa học, lịch sử. Đồng thời cần có quy định về các hành vi bị cấm để hạn chế việc làm thất thoát, hư hỏng, sai lệch, lộ bí mật thông tin tài liệu lưu trữ... để có hình thức xử lý phù hợp theo pháp luật.
đ) Vấn đề sở hữu
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, vai trò và giá trị của tài liệu lưu trữ ngày càng được đánh giá cao như là nguồn tài nguyên thông tin quan trọng thì vấn đề sở hữu đối với tài liệu lưu trữ như là một phần tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân cần phải được làm rõ, đặc biệt là việc quản lý tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức không sử dụng ngân sách nhà nước, của các tổ chức kinh tế 100% vốn nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, tổ chức kinh tế mà Nhà nước liên doanh, liên kết hoặc đóng góp cổ phần chi phối, tổ chức kinh tế tập thể và của các cá nhân, gia đình, dòng họ. Ngoài việc quy định các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ có giá trị đối với Quốc gia và xã hội, Nhà nước cần có chính sách động viên, khuyến khích việc đăng ký, hiến tặng, ký gửi hoặc bán cho Nhà nước những tài liệu lưu trữ tư thuộc diện quý hiếm. Đây là cơ sở pháp lý để tạo điều kiện cho việc sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm ở trong nước và ngoài nước, góp phần bổ sung nguồn tài liệu liên quan đến lịch sử Việt Nam hiện còn thiếu hụt trong các Lưu trữ lịch sử.
3. Yêu cầu hội nhập với luật pháp lưu trữ quốc tế
Các nước trên thế giới và trong khu vực đều đã ban hành Luật Lưu trữ. Luật Lưu trữ được ban hành đầu tiên trên thế giới vào năm 1794 tại Pháp. Sau đó, nhất là vào những năm 60 của thế kỷ trước cho đến nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự thay đổi về chính trị, chính sách, việc quản lý các loại tài liệu lưu trữ hiện đại, độ phức tạp ngày càng cao của công tác lưu trữ đã dẫn tới việc nhiều quốc gia ở khắp châu lục đã ban hành mới hoặc sửa đổi Luật Lưu trữ của nước mình. Hiện nay, số nước còn chưa có Luật Lưu trữ không nhiều, chủ yếu ở các nước đang phát triển, hoặc có chế độ chính trị chưa ổn định.
Qua nghiên cứu tham khảo luật pháp về lưu trữ của các nước cho thấy hầu hết các nước đã có luật và quy định rõ vai trò quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ. Qua hệ thống tổ chức lưu trữ; chính sách quản lý đối với tài liệu lưu trữ công và tài liệu lưu trữ tư; thẩm quyền của thanh tra lưu trữ; các hành vi bị cấm và mức phạt; thời hạn nộp lưu tài liệu vào lưu trữ hiện hành và lưu trữ lịch sử; thời hạn cho phép tiếp cận tài liệu lưu trữ thuộc diện bí mật nhà nước và bí mật đời tư; giá trị của bản chứng thực lưu trữ; việc mang tài liệu lưu trữ ra nước ngoài…Đây là những vấn đề cần được Luật Lưu trữ Việt Nam nghiên cứu tiếp cận theo xu hướng hội nhập quốc tế.
Ngoài ra, nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ của các độc giả trong và ngoài nước ngày càng tăng. Vấn đề quyền được khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ để phục vụ cho hoạt động thực tiễn và nghiên cứu lịch sử đã và đang trở nên cấp thiết, nhất là khi Việt Nam đang thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với các nước. Nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài đang kinh doanh, hoạt động tại Việt Nam muốn được khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ của Việt Nam để phục vụ cho hoạt động của mình, đồng thời bản thân tổ chức và cá nhân này trong quá trình hoạt động cũng hình thành nên tài liệu lưu trữ có giá trị đối với Việt Nam. Vì vậy, những vấn đề liên quan đến các quy định trong lĩnh vực tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ rất cần được cải tiến, nhằm quản lý chặt chẽ nhưng đảm bảo quyền tiếp cận thông tin và không vi phạm hoặc trái với thông lệ quốc tế. Những vấn đề đó chỉ có thể được đưa vào các quy định của Luật.
Từ những lý do nêu trên, việc xây dựng và ban hành Luật Lưu trữ là yêu cầu khách quan để hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo điều kiện tăng cường các hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo yêu cầu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã đặt ra.
II. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Dự thảo Luật Lưu trữ
1. Thể chế hoá quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động lưu trữ nhằm tăng cường thu thập, bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ; tập trung đẩy mạnh việc minh bạch, công khai, đơn giản hoá các thủ tục tiếp cận tài liệu lưu trữ.
2. Tăng cường vai trò quản lý thống nhất của Nhà nước đối với công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ, có sự phân cấp quản lý trong hệ thống tổ chức lưu trữ theo ngành, lãnh thổ hành chính.
3. Tạo cơ sở pháp lý đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển ngành lưu trữ hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
4. Thể hiện cụ thể trách nhiệm của các cấp quản lý, quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với tài liệu lưu trữ công thuộc sở hữu nhà nước và tài liệu lưu trữ tư. Khuyến khích tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đăng ký, thống kê, hiến tặng, ký gửi tài liệu lưu trữ tư cho Nhà nước; đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ.
5. Tạo điều kiện xã hội hoá các hoạt động lưu trữ trong việc đào tạo, tư vấn, chuyển giao công nghệ, cung cấp trang thiết bị, tra tìm, chỉnh lý, tu bổ, phục chế tài liệu lưu trữ.
6. Bảo đảm tính kế thừa, ổn định, khắc phục những tồn tại của Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia và các quy định pháp luật hiện hành về lưu trữ; phát huy những thành tựu xây dựng và phát triển công tác lưu trữ thời gian qua trên cơ sở tổng kết việc thi hành pháp luật về lưu trữ.
7. Bảo đảm hợp hiến; thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế.
III. Cơ sở xây dựng Dự thảo Luật Lưu trữ
1. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001;
2. Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia năm 2001;
3. Nghị định số 111/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia;
4. Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư;
5. Chỉ thị số 05/2007/CT-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2007 về tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ;
6. Quyết định số 177/2003/QĐ-TTg ngày 01 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước;
7. Quy định về Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam số 210-QĐ/TW ngày 06 tháng 3 năm 2009 của Ban Chấp hành Trung ương;
8. Quy định giải mật tài liệu của các cơ quan, tổ chức trước khi nộp lưu vào Kho Lưu trữ Trung ương Đảng và tài liệu của Kho Lưu trữ Trung ương Đảng số 212-QĐ/TW ngày 16 tháng 3 năm 2009;
9. Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000;
10. Luật Di sản văn hoá năm 2001;
11. Luật Thanh tra năm 2004;
12. Luật Doanh nghiệp năm 2005;
13. Luật Luật Điện ảnh năm 2006;
14. Luật Công chứng năm 2006…
IV. Quá trình xây dựng Dự thảo Luật Lưu trữ
Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, trong thời gian qua, Bộ Nội vụ đã thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
1. Thành lập Ban soạn thảo với sự tham gia của đại diện các cơ quan: Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, đồng thời thành lập Tổ biên tập giúp việc cho Ban soạn thảo.
2. Tổ chức tổng kết thi hành Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia và khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội các hoạt động thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ và quản lý nhà nước về lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức trung ương và địa phương, qua đó đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập trong thực tiễn thi hành Pháp lệnh (xem Báo cáo tổng kết thi hành Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia đính kèm).
3. Rà soát đánh giá các văn bản pháp luật hiện hành về lưu trữ, trong đó có Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001 và hệ thống pháp luật về lưu trữ ở Việt Nam trước và sau khi ban hành Pháp lệnh (tổng số 25 văn bản, xem Báo cáo đánh giá các văn bản pháp luật về lưu trữ đính kèm).
4. Tổ chức tham khảo, nghiên cứu luật pháp nước ngoài kết hợp việc mời chuyên gia sang giới thiệu về lưu trữ của các nước trên thế giới, đặc biệt của các nước có nhiều điểm tương đồng và có ảnh hưởng tới Việt Nam như Trung Quốc, Nga, Pháp, Malaisia, Hàn Quốc...(xem Báo cáo tổng hợp nghiên cứu tham khảo luật pháp nước ngoài về lưu trữ đính kèm).
5. Nghiên cứu, tổng hợp những văn bản pháp luật hiện hành ở Việt Nam liên quan đến công tác lưu trữ (tổng số 30 văn bản, xem Báo cáo tổng hợp các văn bản pháp luật hiện hành liên quan Dự thảo Luật Lưu trữ đính kèm).
6. Tổ chức đánh giá tác động kinh tế- xã hội liên quan đến Dự thảo (xem Báo cáo đánh giá tác động kinh tế- xã hội liên quan Dự thảo Luật Lưu trữ đính kèm).
7. Tổ chức lấy ý kiến đóng góp thông qua các buổi toạ đàm, hội thảo, xin ý kiến trực tiếp, trên mạng Website, lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành, địa phương về Dự thảo Luật và Tờ trình; tổng hợp và nghiên cứu tiếp thu ý kiến.
8. Tổ chức xin ý kiến thẩm định Dự thảo Luật, nghiên cứu và tiếp thu các ý kiến của Hội đồng thẩm định.
Ban soạn thảo đã tổ chức nhiều cuộc họp thảo luận, thống nhất về quan điểm xây dựng và nội dung cơ bản của Dự thảo Luật, đồng thời chỉ đạo Tổ biên tập hoàn thiện hồ sơ Dự thảo Luật Lưu trữ.
V Những điểm mới điều chỉnh của Dự thảo Luật Lưu trữ
1. Làm rõ hệ thống lưu trữ lịch sử và thẩm quyền quản lý tài liệu của các Lưu trữ lịch sử (được thể hiện tại Điều….)
2. Làm rõ tài liệu lưu trữ công, tài liệu lưu trữ tư và việc quản lý tài liệu lưu trữ công, tư (được thể hiện tại Điều….)
3. Xã hội hoá một số hoạt động dịch vụ lưu trữ theo quy định pháp luật (được thể hiện tại Điều….)
4. Mở rộng và tăng cường hội nhập quốc tế (được thể hiện tại Điều….)
5. Minh bạch, công khai, đơn giản hoá các thủ tục tiếp cận tài liệu lưu trữ (được thể hiện tại Điều….)
6. Quy định thẩm quyền các Lưu trữ lịch sử được cấp chứng thực lưu trữ và giá trị pháp lý của chứng thực lưu trữ (được thể hiện tại Điều….)
7. Quy định thời hạn được phép tiếp cận tài liệu lưu trữ thuộc diện hạn chế sử dụng (được thể hiện tại Điều….)
8. Xác định vị trí, vai trò của thanh tra chuyên ngành lưu trữ (được thể hiện tại Điều….)
9. Quy định các hành vi bị cấm (được thể hiện tại Điều….)
10. Bổ sung giải thích một số từ ngữ chuyên ngành lưu trữ được sử dụng trong Luật Lưu trữ (được thể hiện tại Điều….)

VI. Bố cục của Dự thảo Luật Lưu trữ
Luật Lưu trữ dự kiến có 4 chương, 36 điều, được bố cục như sau:
Chương I. Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 7)
Chương II. Quản lý tài liệu lưu trữ (từ Điều 8 đến Điều 29)
Chương III. Quản lý nhà nước về lưu trữ (từ Điều 30 đến Điều 34)
Chương IV. Điều khoản thi hành (từ Điều 35 đến Điều 36)
VII. Nội dung chính của Dự thảo Luật Lưu trữ
Nội dung chủ yếu của Luật Lưu trữ bao gồm:
Chương I. Những quy định chung: 7 điều
Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ và các vấn đề có tính nguyên tắc chung như: nguyên tắc quản lý lưu trữ, chính sách của Nhà nước về lưu trữ, xã hội hoá hoạt động lưu trữ; các hành vi bị cấm.
Chương II. Quản lý tài liệu lưu trữ: 5 mục, 22 điều
Mục 1. Quản lý hồ sơ, tài liệu của cơ quan, tổ chức và quản lý tài liệu lưu trữ tư: 5 điều. Mục này quy định về trách nhiệm lập và quản lý hồ sơ, tài liệu tại cơ quan, tổ chức; thời hạn nộp lưu tài liệu vào Lưu trữ cơ quan; tổ chức và nhiệm vụ của Lưu trữ cơ quan; quản lý tài liệu lưu trữ trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị hành chính chia, tách, sáp nhập, giải thể, doanh nghiệp nhà nước phá sản hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu; quản lý tài liệu lưu trữ tư.
Mục 2. Xác định giá trị tài liệu: 2 điều. Mục này quy định về xác định giá trị tài liệu; tiêu huỷ tài liệu hết giá trị.
Mục 3. Thu thập tài liệu vào Lưu trữ lịch sử: 5 điều. Mục này quy định về hệ thống Lưu trữ lịch sử; thẩm quyền thu thập tài liệu của Lưu trữ lịch sử; Lưu trữ cấp xã; thời hạn nộp lưu tài liệu vào Lưu trữ lịch sử; trách nhiệm giao, nhận tài liệu vào Lưu trữ lịch sử.
Mục 4. Bảo quản tài liệu lưu trữ: 3 điều. Mục này quy định về trách nhiệm bảo quản tài liệu lưu trữ; đăng ký, quản lý tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt quý, hiếm; thống kê nhà nước về lưu trữ.
Mục 5. Khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ: 7 điều. Mục này quy định về quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ; tài liệu hạn chế sử dụng tại Lưu trữ lịch sử; thủ tục khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ; thẩm quyền cho phép sử dụng tài liệu lưu trữ; chứng thực lưu trữ; công bố tài liệu lưu trữ; mang tài liệu lưu trữ ra nước ngoài.
Chương III. Quản lý nhà nước về lưu trữ: 5 điều. Chương này quy định về nội dung quản lý nhà nước về lưu trữ; trách nhiệm quản lý nhà nước về lưu trữ; hợp tác quốc tế về lưu trữ; kinh phí đầu tư cho lưu trữ; thanh tra chuyên ngành lưu trữ.
Chương IV. Điều khoản thi hành: 2 điều. Chương này quy định về hiệu lực thi hành; hướng dẫn thi hành.
VIII. Đánh giá tác động của Dự thảo Luật Lưu trữ
Hoàn thành xây dựng Luật Lưu trữ sẽ có tác động quan trọng đối với ngành lưu trữ nói riêng và các hoạt động kinh tế xã hội nói chung, thể hiện ở những điểm sau:
1. Tạo công cụ pháp luật cao nhất để quản lý hoạt động lưu trữ và tài liệu lưu trữ.
2. Đẩy mạnh hoạt động quản lý nhà nước về lưu trữ.
3. Tăng cường xã hội hoá một số hoạt động dịch vụ lưu trữ để giảm bớt cho phí của Ngân sách nhà nước cho lưu trữ và tạo việc làm cho các thành phần kinh tế phát triển.
4. Tạo bước ngoặt cho việc tiếp cận thông tin lưu trữ nhằm phát huy tối đa giá trị tài liệu lưu trữ phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
5. Mở rộng và tăng cường hội nhập quốc tế để tranh thủ kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến của các nước trên thế giới.
6. Củng cố hệ thống tổ chức lưu trữ trong cả nước.
IX. Một số vấn đề xin ý kiến Chính phủ
1. Về tổ chức Lưu trữ lịch sử tại Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao
Do tính chất đặc thù của tài liệu hình thành trong hoạt động của các ngành Công an, Quốc phòng, Ngoại giao nên ngay từ năm 1963, theo quy định tại Điều lệ về công tác công văn giấy tờ và công tác lưu trữ ban hành kèm theo Nghị định số 142/CP ngày 28 tháng 9 năm 1963 của Hội đồng Chính phủ thì những ngành này được lập Kho lưu trữ riêng. Để tạo điều kiện cho xã hội được tiếp cận thông tin tài liệu của các ngành này, Nghị định số 111/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia có quy định hồ sơ, tài liệu của các ngành trên phải nộp lưu vào các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia sau 30 năm nhưng trên thực tế việc nộp lưu chưa thực hiện được và các ngành này đề nghị được giữ tài liệu lại. Tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng tình hình tài liệu cũng trong tình trạng tương tự như trên.
Do tổ chức như trên nên nhiều tài liệu đã hết thời hạn mật có thể cho phép các nhà nghiên cứu và đông đảo công chúng tiếp cận để nghiên cứu, khai thác, công bố, giới thiệu nhằm phát huy giá trị nhưng còn rất hạn chế.
Vì lý do trên, Ban soạn thảo đề xuất hai phương án:
Phương án 1: Tại Văn phòng Trung ương Đảng và các Bộ Công an, Quốc phòng, Ngoại giao thành lập Lưu trữ lịch sử để vừa phục vụ khai thác sử dụng của cán bộ, công chức, viên chức trong ngành vừa tạo điều kiện phục vụ đông đảo công chúng, đáp ứng yêu cầu khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ của toàn xã hội.
Phương án 2: Tài liệu lưu trữ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương và của các Bộ Công an, Quốc phòng, Ngoại giao sau thời hạn 30 năm kể từ năm kết thúc công việc (trừ tài liệu chưa được giải mật) được giao nộp vào các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia do Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước thuộc Bộ Nội vụ quản lý để phục vụ rộng rãi như quy định tại Nghị định số 111/2004/NĐ-CP.
Ban soan thảo đề nghị Chính phủ chọn Phương án 1.
2. Việc tổ chức một Lưu trữ lịch sử ở cấp tỉnh
Xuất phát từ thực tiễn tổ chức Lưu trữ lịch sử hiện nay ở địa phương, Ban soạn thảo đề xuất hai phương án sau:
Phương án 1: Mỗi tỉnh chỉ lập một Trung tâm lưu trữ tỉnh. Ngoài việc thu tài liệu của các nguồn nộp lưu như hiện nay sẽ thu tài liệu lưu trữ lịch sử của các tổ chức Đảng, tổ chức chính trị- xã hội, các ngành Công an, Quốc phòng ở cấp tỉnh sau 30 năm và tài liệu lưu trữ lịch sử của cấp huyện sau 10 năm. Với phương án này, ở cấp tỉnh chỉ cần xây dựng 63 kho lưu trữ chuyên dụng.
Phương án 2: Giữ tổ chức Lưu trữ lịch sử ở cấp tỉnh và cấp huyện như hiện nay. Với phương án này, ở cấp tỉnh sẽ phải xây dựng 126 kho lưu trữ chuyên dụng và khoảng trên 1200 kho lưu trữ chuyên dụng cấp huyện. Cùng với chi phí đầu tư để xây dựng kho lưu trữ chuyên dụng là sự tăng lên về tổ chức, biên chế không cần thiết và sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan lưu trữ ở địa phương.
Ban soạn thảo đề nghị Chính phủ chọn Phương án 1.
Trên đây là các nội dung của Dự thảo Luật Lưu trữ. Bộ Nội vụ kính trình Chính phủ xem xét, quyết định./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng;
- Uỷ ban … của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chính phủ;
- Bộ Tư pháp;
- Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước;
- Lưu: VT, TH, PC.
BỘ TRƯỞNG



Trần Văn Tuấn


===================

Hy vọng 1 ngày nào đó người sưu tầm chúng ta được tham khảo những tư liệu liên quan tới các nghiên cứu của mình để vén lên bức màn bí mật của 1 số mảng huyền bí trong sưu tầm
- kết nối người chơi tem & tiền VN
- khám phá con tem nhỏ - tận hưởng niềm vui lớn
- mỗi con tem là một nốt nhạc để chúng ta viết lên nhạc phẩm của mình

duckiemhp
Posts: 42
Joined: Sun 12 Jul, 2009 7:34 am

Post by duckiemhp » Wed 17 Nov, 2010 1:17 am

Công tác lưu trữ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng..., pó tay.com :lol: :lol: :lol:, trong khi đó đối tượng áp dụng lại có cả công dân Việt nam, người không có đảng thì sao (đảng muốn ôm tất cả :lol: :roll: ) cái này em nghĩ nên thu hẹp đối tượng áp dụng.

User avatar
gokien
Posts: 1961
Joined: Mon 18 Sep, 2006 3:40 am
Location: hai phong
Contact:

Post by gokien » Wed 17 Nov, 2010 3:30 am

duckiemhp wrote:Công tác lưu trữ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng..., pó tay.com :lol: :lol: :lol:, trong khi đó đối tượng áp dụng lại có cả công dân Việt nam, người không có đảng thì sao (đảng muốn ôm tất cả :lol: :roll: ) cái này em nghĩ nên thu hẹp đối tượng áp dụng.
là sao nhỉ, gk chưa hiểu ý lắm

nhìn chung là dưới sự quản lý của Đ, NN & các bộ ban ngành có liên quan

đối tượng áp dụng có công dân VN, người nước ngoài làm việc tại VN ...

ví dụ thế này nhé

gk muốn tham khảo các tư liệu công văn liên quan tới việc phát hành tem LK5, gk viết 1 đơn gửi cơ quan chức năng, sau khi duyệt thấy nguyện vọng hợp lý, thì trả lời hẹn ngày x,y,z vào xem tài liệu, tất nhiên là sau khi nộp đủ các giấy tờ, lệ phí ... theo quy định của nhà nước

như vậy là gk được tham khảo tài liệu quý, phục vụ sưu tầm

nếu bạn thu hẹp đối tượng áp dụng, không cho cá nhân, thì khi ấy gk lại phải xin giấy giới thiệu của Hội tem Hải Phòng, và tham khảo tư liệu kia với tư cách đại diện của 1 tổ chức.

không hiểu như vậy đã rõ chưa nhỉ

==============

kể ra cũng hơi lằng nhằng, giá như các tư liệu không thuộc nhóm bí mật hoặc chưa giải mật được cơ quan lưu trữ công bố lên mạng thì tuyệt, ai cũng có thể tra cứu tùy nhu cầu sử dụng và nghiên cứu của mình :D
- kết nối người chơi tem & tiền VN
- khám phá con tem nhỏ - tận hưởng niềm vui lớn
- mỗi con tem là một nốt nhạc để chúng ta viết lên nhạc phẩm của mình

duckiemhp
Posts: 42
Joined: Sun 12 Jul, 2009 7:34 am

Post by duckiemhp » Wed 17 Nov, 2010 8:56 am

@gokien: ý em là em tưởng cơ quan, tổ chức nào làm công tác lưu trữ này thì cơ quan đó quản lý mọi mặt chứ sao lại đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng :D

User avatar
Khải-SG
Posts: 2510
Joined: Wed 16 May, 2007 1:24 pm
Location: Saigon - Ho Chi Minh

Post by Khải-SG » Wed 17 Nov, 2010 4:18 pm

Image
Con người cần phải sống có đạo lý & đạo lý đòi hỏi con người sự công bằng. Nghèo cho sạch, rách cho thơm.

User avatar
gokien
Posts: 1961
Joined: Mon 18 Sep, 2006 3:40 am
Location: hai phong
Contact:

Post by gokien » Thu 18 Nov, 2010 1:17 am

duckiemhp wrote:@gokien: ý em là em tưởng cơ quan, tổ chức nào làm công tác lưu trữ này thì cơ quan đó quản lý mọi mặt chứ sao lại đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng :D
giời ơi

có những tư liệu cá nhân lưu trữ, có những thứ cơ quan đoàn thể, nhà nước lưu trữ

các hoạt động lưu trữ, tra cứu thì tuân theo luật, Đảng cũng là 1 tổ chức chính trị nên Đảng cũng tuân theo luật, Đảng sao mà quản lý hết mọi mặt.

Nếu có lo về lưu trữ, chúng ta nên lo những thứ cần thiết nhất là quyền được tra cứu các tư liệu, còn những thứ xa vời kia không lin quan nhiều lắm đâu :D
- kết nối người chơi tem & tiền VN
- khám phá con tem nhỏ - tận hưởng niềm vui lớn
- mỗi con tem là một nốt nhạc để chúng ta viết lên nhạc phẩm của mình

Post Reply

Return to “Tài liệu tham khảo”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests