bàn về tiền gián từ 2 cuốn sách

Các tài liệu phục vụ cho việc sưu tầm
Post Reply
phuongtu
Posts: 59
Joined: Wed 12 Dec, 2012 1:53 am
Location: Thai Nguyen

bàn về tiền gián từ 2 cuốn sách

Post by phuongtu » Fri 15 May, 2015 9:56 am

Trước hết xin cảm ơn các tác giả Nguyễn Anh Huy, Lục Đức Thuận, Võ Quốc Ky đã có nhiều nghiên cứu tâm huyết để cho ra đời 2 cuốn sách Tiền Cổ Việt Nam (Lục Đức Thuận – Võ Quốc Ky) và Lịch sử tiền tệ Việt Nam sơ truy và lược khảo (Nguyễn Anh Huy) giúp làm sáng tỏ viều vấn đề về tiền cổ Việt Nam. Đọc 2 cuốn sách em muốn bàn thêm một số vấn đề về tiền gián như sau:
Các đồng xu nhỏ, mỏng được tìm thấy ở các di chỉ khảo cổ thế kỷ 18 được bác sĩ Nguyễn Anh Huy (Bs NAH) nghiên cứu và kết luận là do Mạc Thiên Tứ đúc tại Hà Tiên từ năm 1736 căn cứ vào Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi: “Mạc thị sở chú tiểu gian hiệu Thái Bình, An Pháp đẳng tự lưu nhập Thuận Hóa” có nghĩa là “Họ Mạc đúc tiền cỡ nhỏ hiệu Thái Bình, An Pháp được lưu hành vào xứ Thuận Hóa” (Bs NAH) và Đại Nam liệt truyện tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi: “ Mùa xuân năm Bính Thìn, Túc Tông hoàng đế thứ 11 (1736) lấy Thiên Tứ làm Đô đốc trấn Hà Tiên, ban cho 3 chiếc thuyền long bài, miễn cho thuế má, lại sai mở cục đúc tiền để tiện cho việc buôn bán. Thiên Tứ bèn chia đặt nha thuộc, kén quân lính, xây thành bảo, mở chợ búa, thương nhân các nước đến buôn bán tụ họp rất đông”.
Cũng trong sách Lịch sử tiền tệ Việt Nam… của Bs NAH, anh cho rằng các loại tiền nhỏ mỏng này được gọi là tiền gian, không phải tiền gián vì tiền gián là khái niệm chỉ một loại đơn vị tiền tệ có tỷ giá khác với tiền quý. Tuy nhiên trong sách Tiền cổ Việt Nam của tác giả Lục Đức Thuận và Võ Quốc Ky đã phân tích và cho rằng tiền gián và tiền quý là 2 loại tiền khác nhau căn cứ vào sách Vân Đài loại ngữ của Lê Qúy Đôn viết: “ Ở nước Nam ta, 36 đồng gọi là một sử tiền, 60 đồng làm một mạch gọi là cổ tiền. Cứ 10 tiền sử tiền lại là 6 tiền cổ tiền là một quan sử tiền. Còn 10 tiền cổ tiền lại là 1 quan 6 tiền 24 đồng sử tiền, cũng là một quan cổ tiền. Lúc bấy giờ công tư đều thông dụng. Ban thưởng cấp phát thì lấy sử tiền mà tính. Còn trưng thu nộp thuế thì lấy cổ tiền mà tính. Đời gần đây thì toàn dùng cổ tiền. Còn sử tiền thì việc mua bán trong dân gian còn dùng”; và sách Lê triều chiếu lệnh thiện chính chép năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625): “Các hạng thuế ngạch hàng năm, nên định lại có thứ bậc: Hạng lính không đi theo trận mạc, mỗi người đóng cổ tiền 3 quan 5 tiền, không có cổ tiền thì cho đóng tiền 7 quan. Hạng quân mỗi người đóng cổ tiền 1 quan 5 tiền, không có cổ tiền thì cho đóng 3 quan 3 tiền”. Trong thơ của Hồ Xuân Hương cũng có nói đến cổ tiền (tiền quý) và sử tiền (tiền gián), xin chép lại đầy đủ:
Trách Chiêu Hổ:
Sao nói rằng năm lại có ba
Trách người quân tử hẹn sai ra
Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt
Nhớ hái cho xin nắm lá đa.

Chiêu Hổ họa lại:
Rằng gián thì năm, quý có ba
Bởi người thục nữ tính không ra
Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt
Cho cả cành đa lẫn củ đa.
Giáo sĩ Alếchxăng Đờrốt đến Đàng Trong năm 1724 và ra Đàng Ngoài sống từ 1727 đến 1730, ông đã nói đến hai loại tiền lớn nhỏ được tiêu dùng trong xứ vào thời đó. Loại tiền lớn được thông dụng khắp hai xứ, phần lớn được mang vào đất Việt từ Nhật Bản hoặc bởi khách thương Trung Quốc. Loại tiền nhỏ được lưu hành tại kinh thành và bốn trấn chung quanh mà thôi chứ không dùng ở các trấn khác hoặc ở xứ Đàng Trong. Ông cũng bàn thêm về tiền đồng: “ các loại tiền lớn nhỏ đều được đánh bóng, có hình tròn và 4 chữ đúc ở một mặt và có một lỗ ở giữa có thể xỏ qua được…” (Tiền cổ Việt Nam – LĐT-VQK).
Như vậy thì cổ tiền (tiền quý) là thứ tiền to, còn sử tiền (tiền gián) là thứ tiền nhỏ; và trước khi Mạc Thiên Tứ đúc tiền gian ở Hà Tiên năm 1736 thì ở Đàng Ngoài đã sử dụng hai loại tiền lớn nhỏ khác nhau; và tiền gián và tiền quý là 2 thứ tiền khác nhau chứ không phải là khái niệm chỉ một loại tiền tệ với tỷ giá khác nhau như quan điểm của Bs NAH được. Và vì cùng là thứ tiền nhỏ nên có thể nói tiền gian cũng là tiền gián, chỉ khác nhau cách đọc mà thôi.
Hồ Xuân Hương sinh năm 1772, khi viết bài thơ Trách Chiêu Hổ cũng phải tuổi 18 đôi mươi rồi (trước sau năm 1790), nếu chỉ tính từ năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1725) đến khi có bài thơ của Hồ Xuân Hương thì tiền gián cũng có 7-8 chục năm rồi, như vậy không thể nói tiền gián không được phổ biến lâu dài như Bs NAH được.
Một vấn đề mâu thuẫn khác là: Sách Đại Nam thực lục tiền biên ghi: “Buổi quốc sơ thường đúc tiền đồng nhỏ in hai chữ Thái Bình” tức là thời đầu chúa Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp đã đúc tiền nhỏ Thái Bình; chữ nhỏ ở đây hẳn phải là để phân biệt với loại tiền to hơn về kích cỡ, nếu không thì chỉ cần ghi Buổi quốc sơ thường đúc tiền đồng in hai chữ Thái Bình”. Nếu đúng như vậy thì từ thời chúa Nguyễn Hoàng đã có thứ tiền nhỏ chứ không phải mãi đến năm 1736 mới có thứ tiền nhỏ do Mạc Thiên Tứ đúc. Nếu điều này đúng thì lại mâu thuẫn với ghi chép của giáo sĩ Giáo sĩ Alếchxăng Đờrốt là Loại tiền nhỏ được lưu hành tại kinh thành và bốn trấn chung quanh mà thôi chứ không dùng ở các trấn khác hoặc ở xứ Đàng Trong.
Vậy tiền gián thực sự có từ khi nào? Khi đã khẳng định được tiền gián do Mạc Thiên Tứ đúc từ năm 1736 thì việc gán ghép tiền Thái Bình, An Pháp do nhà Mạc ở Cao Bằng đúc là không còn thuyết phục; vậy thứ tiền nhỏ ở Đàng Ngoài là những hiệu tiền gì, do ai đúc?
(Các trích dẫn được ghi lại từ các trích dẫn trong 2 cuốn sách nói trên).

Post Reply

Return to “Tài liệu tham khảo”

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests